|
4029_1309150019_12.jpg
Theo thông báo từ Bộ Di Trú Và Cộng Đồng Văn Hóa Québec, chương trình định cư theo diện đầu tư Québec sẽ tạm ngưng nhận hồ sơ từ 15/10/2010. Chương trình sẽ không được tiếp tục trong khi chính phủ tỉnh bang Quebec và chính phủ Liên bang xem xét lại các chương trình nhập cư theo diện đầu tư.
Ngoài ra, từ ngày 26/06/2010, chính phủ Canada cũng đã tạm ngưng nhận hồ sơ xin nhập cư theo diện đầu tư Liên Bang với cùng lý do.
Tuy nhiên, các đương đơn tiềm năng có nhu cầu xin visa theo các diện này vẫn có thể nộp hồ sơ đi các tỉnh bang khác hiện vẫn duy trì chương trình này (như chương trình đầu tư/doanh nhân tại tỉnh bang Manitoba).
Kể từ ngày 26/06/2010 đến ngày 19/10/2010, Bộ di trú Canada đã nhận số lượng hồ sơ dưới đây theo diện Tay nghề Liên Bang (Federall Skilled Worker). Tổng số hồ sơ đã nhận là 2,226 trong tổng số tối đa là 20,000 hồ sơ được nhận từ 26/6/2010 đến hết tháng 6/2011.
|
Ngành nghề được phép định cư
|
Số hồ sơ hoàn chỉnh đã nhận
|
|
0631: Giám đốc nhà hàng và dịch vụ thực phẩm
|
83 trên 1,000
|
|
0811: Giám đốc sản xuất (phi nông nghiệp)
|
18 trên 1,000
|
|
1122: Các ngành chuyên biệt trong quản lý dịch vụ doanh nghiệp
|
739 trên 1,000
|
|
1233: Nhân viên bảo hiểm và kiểm tra hồ sơ xin bảo hiểm
|
28 trên 1,000
|
|
2121: Nhà sinh học hoặc các nhà khoa học có liên quan
|
95 trên 1,000
|
|
2151: Kiến trúc sư
|
125 trên 1,000
|
|
3111: Chuyên gia y khoa
|
93 trên 1,000
|
|
3112: Bác sỹ gia đình và Bác sỹ tổng quát
|
117 trên 1,000
|
|
3113: Nha sỹ
|
125 trên 1,000
|
|
3131: Dược sỹ
|
192 trên 1,000
|
|
3142: Chuyên viên Vật lý trị liệu
|
34 trên 1,000
|
|
3152: Y tá
|
296 trên 1,000
|
|
3215: Kỹ thuật viên phóng xạ y khoa
|
5 trên 1,000
|
|
3222: Kỹ thuật viên nha khoa
|
4 trên 1,000
|
|
3233: Y tá thực hành
|
13 trên 1,000
|
|
4151: Nhà tâm lý học
|
23 trên 1,000
|
|
4152: Nhà hoạt động xã hội
|
57 trên 1,000
|
|
6241: Bếp trưởng
|
11 trên 1,000
|
|
6242: Đầu bếp/Nấu ăn
|
32 trên 1,000
|
|
7215: Thầu và giám sát, Thợ Mộc
|
13 trên 1,000
|
|
7216: Thầu và giám sát, Thợ cơ khí
|
39 trên 1,000
|
|
7241: Thợ điện (Ngoại trừ hệ thống điện và Công nghiệp)
|
22 trên 1,000
|
|
7242: Thợ điện công nghiệp
|
28 trên 1,000
|
|
7251: Thợ sửa ống nước
|
2 trên 1,000
|
|
7265: Thợ hàn và các máy móc liên quan
|
6 trên 1,000
|
|
7312: Thợ cơ khí thiết bị hạng nặng
|
11 trên 1,000
|
|
7371: Thợ vận hành cần cẩu
|
0 trên 1,000
|
|
7372: Thợ khoan và phá – Hầm mỏ lộ thiên, xây dựng
|
2 trên 1,000
|
|
8222: Giám sát Dịch vụ khoan dầu khí
|
13 trên 1,000
|
|
2639_1308300146__1876_343_s.jpg
Từ ngày 01 tháng 03 năm 2003, Sở Di Trú Úc đã có những thay đổi lớn đối với Chương trình Nhập cư Thương Mại. Hệ thống mới cho phép các thương nhân, cán bộ cao cấp và các nhà đầu tư nước ngoài muốn kinh doanh tại Úc, được nhận chiếu khán tạm thời trong vòng 4 năm.
Sau khi thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh đạt tới một mức độ nhất định, thì họ có thể được xin cấp thường trú nhân.
Visa cấp cho chủ doanh nghiệp được chính quyền địa phương bảo lãnh là loại Visa phù hợp với các công dân Việt Nam. Người đăng ký xin visa cần chứng minh:
|

|
Được cơ quan có thẩm quyền của chính quyền địa phương bảo lãnh.
|
|

|
Hoạt động tương đối thành công trong lĩnh vực kinh doanh.
|
|

|
Tối thiểu 2 trong 4 năm tài khóa liên tiếp trước khi đăng ký xin visa, doanh nghiệp của người đăng ký phải sinh lời từ lĩnh vực hay các lĩnh vực kinh doanh có doanh thu hàng năm tối thiểu là AUD 300,000.
|
|

|
Trực tiếp đảm nhiệm các chức vụ quản lý kinh doanh trong ít nhất là 4 năm liên tiếp trước khi làm thủ tục đăng ký xin visa và chứng tỏ được khả năng quản lý kinh doanh của mình.
|
|

|
Doanh nghiệp của người đăng ký (hoặc doanh nghiệp của người đăng ký cùng vợ/chồng) cùng tài sản khác có trị giá tối thiểu là AUD 250,000, đủ đảm bảo thiết lập doanh nghiệp tại Úc theo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo có thể chuyển giao sang Úc trong vòng 2 năm theo thời hạn của visa đối với chủ doanh nghiệp được chính quyền địa phương bảo lãnh.
|
|

|
Người xin visa (hoặc người xin visa cùng với vợ hoặc chồng) có doanh nghiệp và/hoặc tài sản cá nhân ngoài những tài sản nêu ở mục 5 với giá trị đảm bảo cuộc sống tại Úc.
|
|

|
Dưới 55 tuổi tại thời điểm đăng ký xin visa hoặc dự định thành lập hoặc tham gia vào doanh nghiệp trong lĩnh vực mà chính quyền địa phương đứng ra bảo lãnh xác định là có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế địa phương.
|
|

|
Chưa tham gia vào các hoạt động chuyên môn, kĩ thuật hay thương mại của một doanh nghiệp mà chiếm tới trên 50% quĩ thời gian của người đăng ký.
|
|

|
Người xin visa hay vợ/chồng không tham gia vào doanh nghiệp hay các hoạt động đầu tư không được phép ở Úc.
|
|

|
Cam kết thực sự thành lập và tham gia vào một doanh nghiệp ở Úc và đảm bảo quyền sở hữu cũng như quản lý thực sự và liên tục đối với doanh nghiệp đó.
|
|

|
Chứng minh nhu cầu thực sự cư trú tạm thời ở Úc để thiết lập và điều hành hoạt động kinh doanh.
|
|

|
Ký vào bản tuyên bố đã hiểu nghĩa vụ của người nắm giữ visa cấp cho chủ doanh nghiệp được chính quyền địa phương bảo lãnh.
|
|
|
4028_1309149880_17.jpg
Bộ Di trú và Quốc tịch Úc vừa công bố thang điểm dự kiến áp dụng cho các loại visa tay nghề dưới đây, kể từ ngày 01/07/2011.
· Visa 175 – Độc lập
· Visa 176 – Có bảo lãnh
· Visa 475 – Tạm thời
· Visa 885 – Độc lập (nội địa)
· Visa 886 – Có bảo lãnh (nội địa)
· Visa 487 – Vùng miền có bảo lãnh (nội địa – tạm trú)
Lưu ý:
· Những đương đơn có visa 485 được phép sử dụng Thang điểm cũ cho đến hết năm 2012.
· Du học sinh tại Úc nộp đơn sau 01/07/2011 phải sử dụng Thang điểm mới.
|
Nhóm điểm
|
Mô tả
|
Điểm số
|
|
Độ tuổi
|
18-24
|
25
|
|
25-32
|
30
|
|
33-39
|
25
|
|
40-44
|
15
|
|
45-49
|
0
|
|
Khả năng Anh ngữ
|
IELTS 6.0
|
0
|
|
IELTS 7.0
|
10
|
|
IELTS 8.0
|
20
|
|
Kinh nghiệm làm việc tại Úctheo ngành nghề đăng ký nhập cư hoặc ngành nghề có liên quan
|
1 năm kinh nghiệm (trong 2 năm gần nhất)
|
5
|
|
3 năm kinh nghiệm (trong 5 năm gần nhất)
|
10
|
|
5 năm kinh nghiệm (trong 7 năm gần nhất)
|
15
|
|
Kinh nghiệm làm việc ởngoài nước Úc theo ngành nghề đăng ký nhập cư hoặc ngành nghề có liên quan
|
3 năm kinh nghiệm (trong 5 năm gần nhất)
|
5
|
|
5 năm kinh nghiệm (trong 7 năm gần nhất)
|
10
|
|
8 năm kinh nghiệm (trong 10 năm gần nhất)
|
15
|
|
Bằng cấp (được cấp tại Úc hoặc tại nước ngoài)
|
Bằng nghề ở nước ngoài hoặc các loại bằng cao đẳng, chứng chỉ tại Úc
|
10
|
|
Bằng cử nhân và Thạc sỹ
|
15
|
|
Tiến sỹ
|
20
|
|
Học tập tại Úc
|
Có học tập tại Úc trên 2 năm
|
5
|
|
Ngôn ngữ cộng đồng
|
|
5
|
|
Vợ/chồng đi theo
|
|
5
|
|
Hoàn thành năm chuyên tu
|
|
5
|
|
Bảo lãnh của chính phủ tiểu bang
|
|
5
|
|
Bảo lãnh của gia đình hoặc chính phủ tiểu bang để sinh sống tại vùng ít dân
|
|
10
|
|
Học tập tại vùng ít dân
|
|
5
|
Một số điểm cần lưu ý đối với thang điểm mới
1. Điểm tối thiếu để nhập cư là 65 điểm. Điểm tối thiếu sẽ thay đổi theo thời gian.
2. Tăng độ tuổi tối đa cho phép nhập cư, tuy nhiên, nhóm tuổi từ 45-49 sẽ không được cộng điểm nào.
3. Điểm tối thiểu IELTS để nhập cư vẫn là 6.0 (cho từng kỹ năng). Tuy nhiên, những đương đơn nào đạt điểm IELTS tối thiểu sẽ không được cộng điểm nào. Thang điểm mới ưu tiên cho người có trình độ tiếng Anh cao (trên IELTS 7.0).
4. Thang điểm mới không đặt nặng việc phân chia điểm theo từng ngành nghề mà đồng nhất số điểm, ví dụ: 15 điểm cho tất cả các loại bằng cử nhân.
5. Đương đơn từ Việt Nam sẽ không còn đương nhiên được cộng điểm thành thạo ngôn ngữ cộng đồng như trước. Nếu muốn được cộng điểm này, đương đơn phải trải qua kỳ thi sát hạch của Hiệp hội Thông dịch viên và Thông ngôn viên của Úc (NAATI). Hoặc đương đơn phải tốt nghiệp với bằng cử nhân Thông dịch viên hoặc Thông ngôn viên được cấp tại Việt Nam.
6. Việc áp dụng thang điểm mới đồng nghĩa với việc sẽ có Danh sách ngành nghề nhập cư mới, qua đó, không có điểm cụ thể cho từng ngành riêng biệt.
7. Việc có bảo lãnh của gia đình chỉ được cộng điểm khi đương đơn xin đến các vùng ít dân (Visa 475). Visa 176 sẽ không còn trường hợp được người thân bảo lãnh (sau 01/07/2010).
So sánh thang điểm:
Trường hợp 1: Sinh viên mới ra trường nộp đơn từ Việt Nam
|
Loại điểm
|
Điểm số theo Thang điểm cũ
|
Điểm số theo Thang điểm mới
|
|
Độ tuổi: 22
|
30
|
25
|
|
Anh ngữ IELTS 6.0
|
15
|
0
|
|
Bằng cấp đang cần
|
50
|
15
|
|
Thành thạo tiếng Việt
|
5
|
0
|
|
Bảo lãnh của tiểu bang
|
10
|
5
|
|
Tổng điểm
|
110 – Đủ để xin Visa 176
|
45 – Rớt
|
Trường hợp 2: Sinh viên mới ra trường tại Úc
|
Loại điểm
|
Điểm số theo Thang điểm cũ
|
Điểm số theo Thang điểm mới
|
|
Độ tuổi: 22
|
30
|
25
|
|
Anh ngữ IELTS 6.0
|
15
|
0
|
|
Bằng cấp đang cần
|
60
|
15
|
|
Học tập tại Úc
|
5
|
5
|
|
Bảo lãnh của tiểu bang
|
10
|
5
|
|
Tổng điểm
|
120 – Đủ để xin Visa 175
|
50 – Rớt. Chỉ có thể xin visa 485 để tiếp tục đi làm/học chuyên tu lấy thêm kinh nghiệm.
|
Trường hợp 3: Người có trên 3 năm kinh nghiệm tại Việt Nam
|
Loại điểm
|
Điểm số theo Thang điểm cũ
|
Điểm số theo Thang điểm mới
|
|
Độ tuổi: 25
|
30
|
30
|
|
Anh ngữ IELTS 6.0
|
15
|
0
|
|
Bằng cấp đang cần
|
60
|
15
|
|
Kinh nghiệm làm việc
|
10
|
5
|
|
Thành thạo tiếng Việt
|
5
|
0
|
|
Bảo lãnh của tiểu bang
|
Không cần
|
5
|
|
Tổng điểm
|
120 – Đủ để xin Visa 175
|
55 – Rớt. Chỉ có IELTS 7.0 mới giải quyết vấn đề.
|
|
2637_1308300160_-8-loi-mach-nuoc-de-_1799_644_s.jpg
Úc là một đất nước rộng lớn với dân số chỉ có 21,283,000 người (Theo Cục Thống Kê Úc tháng 3/2008) và hiện đang thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động có tay nghề cao do đó Chính phủ Úc khuyến khích những người đủ điều kiện ở các nước khác trên thế giới đến Úc để định cư, trong đó có Việt nam .
Có 3 loại visa thông dụng:
- Visa định cư tay nghề độc lập (Skilled Independent)- permanent
- Visa định cư tay nghề có thân nhân bảo lãnh (Skilled - Australian Sponsored)- permanent
- Visa định cư tay nghề có Bang, Hạt bảo lãnh (Skilled – Regional Sponsored) - provisional
- Đối với Visa định cư tay nghề độc lập (Skilled Independent), bạn phải thỏa mãn được những điều kiện cơ bản và có điểm chuẩn (point test) trên 120 điểm dựa trên thang điểm đánh giá tiêu chuẩn. Khi lấy được visa theo diện này, bạn và các thành viên trong gia đình sẽ được cấp ngay Thẻ Thường Trú Nhân ( Permanent Resident card) và được hưởng tất cả các quyền lợi như người bản xứ
- Đối với Visa định cư tay nghề có thân nhân bảo lãnh (Skilled - Australian Sponsored), bạn cũng phải thỏa mãn các điều kiện cơ bản và có thân nhân là thường trú nhân hoặc công dân Úc chấp nhận bảo lãnh cho bạn. Thang điểm đủ để bạn và gia đình được cấp Thẻ Thường Trú Nhân ( Permanent Resident card) là 100 điểm dựa trên thang điểm đánh giá tiêu chuẩn.
- Bạn sẽ xin Visa định cư tay nghề có Bang/Hạt bảo lãnh- là một loại visa tạm- trong trường hợp bạn không có thân nhân bảo lãnh nhưng điểm chuẩn của bạn trong khoảng 100-115 điểm. Với visa này chúng tôi sẽ giúp bạn tìm kiếm Bang/ Hạt để bảo lãnh . Bạn sẽ phải sinh sống ở Bang/Hạt đã đồng ý bảo lãnh cho bạn trong vòng 3 năm. Trong khoảng thời gian này, nếu bạn chứng minh được có ít nhất 2 năm sinh sống ở đó và có ít nhất 1 năm làm việc full time thì sau 3 năm định cư bạn sẽ được cấp Thẻ thường trú nhân.
Điều kiện tham gia chương trình định cư:
- Dưới 45 tuổi
- Anh ngữ ít nhất 5 điểm IELTS cho mỗi kỹ năng
- Cao Đẳng , Đại Học trở lên
Khi bạn nộp hồ sơ định cư thì bạn sẽ chọn một ngành nghề phù hợp với kinh nghiệm làm việc và văn bằng của bạn. Ngành nghề đó phải thuộc danh sách ngành nghề cần SOL (Skilled Occupation List).
Lưu ý
- Nếu ngành nghề của bạn không thuộc danh sách ngành nghề cần (SOL) thì bạn không thể nộp đơn xin định cư.
- Bạn phải chứng minh được bạn đã làm việc ít nhất 12 tháng trong 24 tháng qua và ngành nghề phải thuộc nghành nghề cần (SOL)
Bạn sẽ được cộng thêm điểm nếu có những điều kiện sau
- Có thân nhân ở Úc (là công dân hoặc thường trú nhân) bảo lãnh cho bạn
- Bạn đã từng du học ở Úc ít nhất 2 năm sau PTTH
- Vợ/chồng có trình độ và kinh nghiệm làm việc nằm trong danh mục ngành nghề (SOL).
- Ngành nghề của bạn là ngành nghề đang cần gấp (MODL)
Quy trình hồ sơ
Hồ sơ định cư Úc theo diện tay nghề gồm 3 giai đoạn: Giai đọan 1: Đánh giá hồ sơ (Evaluate)
- Hồ sơ sẽ được luật sư đánh giá mức độ thành công trước khi nộp cho cơ quan thẩm định dựa tên 12 yếu tố của thang điểm đánh giá (point test)
Giai đọan 2: Nộp hồ sơ cho Cơ Quan Thẩm Định. (Assessment)
- Thời gian thẩm định khoảng 2 - 4 tháng.
- Mỗi ngành nghề sẽ có một Cơ Quan Thẩm Định khác nhau và có những yêu cầu khác nhau về số năm kinh nghiệm, khả năng ngoại ngữ, bằng cấp... . Bạn có thể tự tham khảo thêm thông tin trên website của chính phủ Úc: www.immi.gov.au
Giai đọan 3: Bộ Di Trú
- Thời gian xét hồ sơ từ 12-15 tháng (tham khảo website Chính phủ : www.imm.gov.au/)
- Sau khi được thẩm định thành công, bạn sẽ nộp kết quả thẩm định , bằng IELTS, lý lịch tư pháp…cùng một số giấy tờ khác có liên quan đến các thành viên trong gia đình bạn (vợ/chồng, con cái) và những người phụ thuộc khác đến Bộ Di Trú.
|
|
4027_1309149825_12.jpg
Xin liên hện bộ phận Úc của Tân Đại Dương 38484879 để được tư vấn trực tiếp
1. Học bổng Đại học:
|
Tên trường
(Tiểu bang)
|
Giá trị
|
Khoá học
|
Yêu cầu
|
|
Australian Catholic University (NSW)
|
AU$ 2.000 học phí
|
2011
|
Sinh viên nhập học trong năm 2011
|
|
50%-100% học phí
|
2012
|
ĐTB > 80%
|
|
Blue Mountain & Australian International Hotel School
|
20% học phí học kỳ 1
|
T7/2011
|
Sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.
|
|
Bond University (Queensland)
|
25% - 50% học phí
|
T9/2011 Nộp hồ sơ trước : 31/5/2011
|
Học sinh có thành tích học tập xuất sắc (tương đương IB >40)
|
|
Charles Sturt University (NSW)
|
20% học phí 1 năm đầu tiên
|
2011
|
Học sinh có thành tích học tập khá giỏi
|
|
James Cook University (Queensland)
|
AU$ 4.000
|
2011
|
|
|
Kaplan Business School (NSW, Vic)
|
AU$ 4.800
|
2011
|
Học sinh tốt nghiệp PTTH loại giỏi
|
|
La Trobe University (Vic)
|
AU$ 4.000-20.000
|
T7/2011 Nộp hồ sơ trước 30/6/2011
|
ĐTB>70%
|
|
AU$ 20.000 học phí/ 4 năm
|
T3/2012
Nộp hồ sơ trước: 10/01/2012
|
Học sinh có thành tích học tập khá giỏi.
|
|
Monash University (Vic)
|
AU$ 3.000-5.000/48 credits
|
2011
|
Học sinh có thành tích học tập giỏi
|
|
Navitas Group
|
50% học phí học kỳ cuối
|
2011
|
ĐTB > 70%;
Đăng ký học tại ACN, Curtin Sydney, Macquarie City Campus
|
|
Swinburne University of Technology (Vic)
|
10% học phí toàn khóa học
|
2011
|
Sinh viên nhập học khóa Đại học (chương trình liên thông từ Foundation/UniLink/TAFE hoặc Elicos + Bachelor)
|
|
10% học phí
|
2011
|
Học sinh có thành tích học tập khá giỏi, đăng ký học tại Lilydale campus, ngành Bachelor of Business, Communication & Social Sciences.
|
|
The University of Queensland(Queensland)
|
50-100% học phí
|
T2/2012
Nộp hồ sơ trước:
21/10/2011
|
Tốt nghiệp PTTH loại giỏi, có thành tích học tập khá giỏi trong năm 1 Đại học (≥ 8.0).
|
|
The University of Melbourne (Vic)
|
10x 100% học phí
|
2011
|
Học sinh có thành tích học tập xuất sắc, đủ điều kiện vào thẳng năm nhất
|
|
10x 50% học phí
|
|
40x AU$ 10.000
|
|
Tên trường
(Tiểu bang)
|
Giá trị
học bổng
|
Khoá học
|
Yêu cầu
|
|
Macquarie University
|
3-5 tuần tiếng Anh
|
Từ tháng 6/ 2011 trở đi
|
Dành cho học sinh đăng kí học lên chuyên ngành tại Macquarie University.
|
|
Wollongong University
|
3-5 tuần tiếng Anh
|
Từ tháng 6/ 2011 trở đi
|
Dành cho học sinh đăng kí học lên chuyên ngành tại Wollongong University
|
|
James Cook University - Brisbane
|
10 tuần tiếng Anh học thuật
|
2011
|
Dành cho học sinh đăng kí học lên chuyên ngành tại James Cook University
|
|
2634_1308300173_-9-tuoi-va-buoc-chan_1926_197_s.jpg
Một số ngành nghề của Úc, khi nộp đơn theo diện ‘tay nghề’ được tính 60 điểm cho ngành nghề đó như: kỹ sư, kế toán, kiến trúc sư….
Tuy nhiên, để xin được thẩm định tương đương 60 điểm không phải chuyện dễ dàng. Ví dụ ngành kế toán, yêu cầu chuẩn là những môn học ở đại học ngành tài chính kế toán phải có tối thiểu 9 môn trong 12 môn chuyên ngành của CPA; ngành quản lý đòi hỏi quản lý 600 nhân viên, 5 năm kinh nghiệm….ngành kỹ sư phần lớn yêu cầu 6 điểm ngoại ngữ IELTS tại thời điểm thời điểm nộp đơn; ngành bác sỹ yêu cầu phải có chỗ thực tập ở Úc dưới sự giám sát của một bác sỹ……
Trong trường hợp không thể đạt 60 điểm, không thể thẩm định kỹ năng thì không còn cách nào khác? Hướng duy nhất là chuyển sang VETASSESS, cơ quan thẩm định chung về bằng cấp tương đương của Úc và sẽ được 50 điểm, một số ngành chỉ được 40 điểm. Yêu cầu VETASSESS khá đơn giản, thông thường chỉ yêu cầu về bằng cấp, bảng điểm và sơ yếu lý lịch.
Trong một số trường hợp, khi chuyển sang VETASSESS thẩm định được 50 điểm, điểm tổng sẽ bị giảm xuống và có khả năng sẽ không đủ 120 điểm. Trong trường hợp này, người nộp đơn cần nâng ngoại ngữ lên 7.0 cho mỗi kỹ năng IELTS để nâng tổng số điểm ngoại ngữ lên 25 điểm thay vì 15 điểm (6 điểm cho mỗi kỹ năng). Đây là cách duy nhất để đi theo diện độc lập không cần bảo lãnh hoặc phải xin bảo lãnh của tỉnh để đi theo diện “Regional Sponsored” với điểm đủ là 100. Có nghĩa là người nộp đơn sẽ có 2 chọn lựa: một là sau khi thẩm định kỹ năng xong, đợi đến khi có 7.0/mỗi kỹ năng IELTS rồi mới nộp hồ sơ xin visa hoặc xin Sponsor của tỉnh để đi theo diện “Regional Sponsored”. Theo diện Regional Sponsored thì phải sinh sống ở tỉnh đó tối thiểu 2 năm rồi mới được định cư chính thức. Nếu đợi đến khi đạt được 7.0 IELTS mới nộp hồ sơ thì sẽ có nhiều rủi ro vì có khả năng các điều kiện nhập cư sẽ thay đổi hoặc sẽ bị trừ điểm vì giới hạn của độ tuổi ưu tiên. Xét cho cùng người có người thân đạt được rất nhiều thuận lợi vì chỉ cần 100 điểm mà vẫn được định cư theo diện độc lập, có thể sinh sống bất cứ nơi nào ở Úc.
|
2633_1308300204__261_753_s.jpg
Trong trường hợp không thể đạt 60 điểm, không thể thẩm định kỹ năng thì không còn cách nào khác? Hướng duy nhất là chuyển sang VETASSESS, cơ quan thẩm định chung về bằng cấp tương đương của Úc và sẽ được 50 điểm, một số ngành chỉ được 40 điểm. Yêu cầu VETASSESS khá đơn giản, thông thường chỉ yêu cầu về bằng cấp, bảng điểm và sơ yếu lý lịch.
Làm gì khi không đủ 120 điểm?
Một số ngành nghề của Úc, khi nộp đơn theo diện ‘tay nghề’ được tính 60 điểm cho ngành nghề đó như: kỹ sư, kế toán, kiến trúc sư….Tuy nhiên, để xin được thẩm định tương đương 60 điểm không phải chuyện dễ dàng. Ví dụ ngành kế toán, yêu cầu chuẩn là những môn học ở đại học ngành tài chính kế toán phải có tối thiểu 9 môn trong 12 môn chuyên ngành của CPA; ngành quản lý đòi hỏi quản lý 600 nhân viên, 5 năm kinh nghiệm….ngành kỹ sư phần lớn yêu cầu 6 điểm ngoại ngữ IELTS tại thời điểm thời điểm nộp đơn; ngành bác sỹ yêu cầu phải có chỗ thực tập ở Úc dưới sự giám sát của một bác sỹ……
Trong trường hợp không thể đạt 60 điểm, không thể thẩm định kỹ năng thì không còn cách nào khác? Hướng duy nhất là chuyển sang VETASSESS, cơ quan thẩm định chung về bằng cấp tương đương của Úc và sẽ được 50 điểm, một số ngành chỉ được 40 điểm. Yêu cầu VETASSESS khá đơn giản, thông thường chỉ yêu cầu về bằng cấp, bảng điểm và sơ yếu lý lịch.
Trong một số trường hợp, khi chuyển sang VETASSESS thẩm định được 50 điểm, điểm tổng sẽ bị giảm xuống và có khả năng sẽ không đủ 120 điểm. Trong trường hợp này, người nộp đơn cần nâng ngoại ngữ lên 7.0 cho mỗi kỹ năng IELTS để nâng tổng số điểm ngoại ngữ lên 25 điểm thay vì 15 điểm (6 điểm cho mỗi kỹ năng). Đây là cách duy nhất để đi theo diện độc lập không cần bảo lãnh hoặc phải xin bảo lãnh của tỉnh để đi theo diện “Regional Sponsored” với điểm đủ là 100. Có nghĩa là người nộp đơn sẽ có 2 chọn lựa: một là sau khi thẩm định kỹ năng xong, đợi đến khi có 7.0/mỗi kỹ năng IELTS rồi mới nộp hồ sơ xin visa hoặc xin Sponsor của tỉnh để đi theo diện “Regional Sponsored”. Theo diện Regional Sponsored thì phải sinh sống ở tỉnh đó tối thiểu 2 năm rồi mới được định cư chính thức. Nếu đợi đến khi đạt được 7.0 IELTS mới nộp hồ sơ thì sẽ có nhiều rủi ro vì có khả năng các điều kiện nhập cư sẽ thay đổi hoặc sẽ bị trừ điểm vì giới hạn của độ tuổi ưu tiên. Xét cho cùng người có người thân đạt được rất nhiều thuận lợi vì chỉ cần 100 điểm mà vẫn được định cư theo diện độc lập, có thể sinh sống bất cứ nơi nào ở Úc
|
2631_1308300218__1200_148_s.jpg
Khi hồ sơ của bạn được Bộ Di Trú chấp nhận, bạn và gia đình sẽ có những ích lợi sau:
- Trở thành công dân thường trú (Permanent Resident) và được hưởng các quyền lợi như người bản xứ ( trừ quyền tham gia bầu cử và Các Đảng Chính trị cho đến khi bạn có Quốc Tịch)
- Nhập quốc tịch sau 4 năm sinh sống ở Úc
- Được chăm sóc y tế miễn phí
- Nhận trợ cấp thất nghiệp sau 2 năm định cư
- Được vay tiền ngân hàng để mua nhà hoặc bất động sản
- Được hưởng phụ cấp gia đình, phụ cấp gửi trẻ (30%) và các chính sách của Chính Phủ về phụ cấp thanh thiếu niên nhằm ngăn chặn tình trạng trẻ em bị bỏ rơi
- Trẻ sơ sinh được trợ cấp 1 lần $4187.00, tiêm chủng $ 232.70
- Trẻ đi học miễn phí đến năm 18 tuổi
- Học Đại Học ở các trường danh tiếng với chi phí thấp
- Được hỗ trợ tìm kiếm việc làm từ Centrelink của chính phủ
- Được hưởng mức lương tối thiểu $59,480/năm (Ngành có chuyên môn cao )
- Được bảo lãnh người thân sau 2 năm định cư
Để tìm hiểu thêm các quyền lợi và nghĩa vụ của bạn khi trở thành công dân Úc, vui lòng tham khảo websites chính phủ: www.centrelink.gov.au
Bắt đầu từ năm 2007, Quỹ Chính Phủ Liên Bang Australia sẽ dành ra 15 triệu đôla để hỗ trợ thai phụ 24/24. Chương trình nhằm cung cấp thông tin và tư vấn cho bất cứ ai muốn chuẩn bị có con hoặc đang mang thai đặc biệt là giúp đỡ những phụ nữ đang mang thai và không có ai bên cạnh để chia sẻ. Để tìm hiểu thêm thông tin về chương trình, vui lòng tham khảo website Chính phủ
|
2628_1308300233__1239_331_s.jpg
Vì sao nước Úc đang được đánh giá là nơi định cư lý tưởng cho những ai muốn bắt đầu cuộc sống mới ở một đất nước khác?
1. Vì sao nước Úc đang được đánh giá là nơi định cư lý tưởng cho những ai muốn bắt đầu cuộc sống mới ở một đất nước khác?
2. Chính phủ Úc đã đưa ra những chính sách ưu ái đặc biệt nào đang chào đón bạn?
3. Nghề nghiệp hiện tại của bạn có nằm trong danh mục ngành nghề được chính phủ Úc săn đón không?
4. Loại visa định cư nào thích hợp với điều kiện và khả năng của bạn?
5. Các giai đoạn trong quá trình xử lý hồ sơ ở cơ quan thẩm định và cơ quan di trú là gì?
6. Những tình huống khó khăn nào có thể xảy ra với hồ sơ của bạn? Và bạn nên chuẩn bị những gì để hồ sơ được xử lý thành công nhanh nhất?
Chương trình định cư theo tay nghề cũng như mời gọi các doanh nghiệp đến đầu tư ở Úc là chương trình có nhiều ưu đãi và khuyến khích của Chính Phủ vì tình trạng thiếu hụt nhân lực, dân số và nhu cầu phát triển kinh tế.
Theo chương trình này không những bạn được sinh sống và làm việc ở Úc mà bạn cùng các thành viên trong gia đình còn được cấp thẻ thường trú nhân và hưởng tất cả các quyền lợi như người bản xứ về Giáo dục, y tế, các chính sách phụ cấp, trợ cấp, an ninh…(Tham khảo chi tiết trên website Chính Phủ www.immi.gov.au)
Nếu bạn có ngành nghề thuộc danh sách ngành nghề cần ở Úc, có bằng cấp Cao Đẳng hay Đại Học trở lên, dưới 45 tuổi và giỏi Tiếng Anh, bạn có thể đủ điều kiện để định cư mà không cần thân nhân bảo lãnh. |
2625_1308300259__1245_905_s.jpg
Australia đang nỗ lực thu hút những người di trú có tay nghề để đáp ứng nhu cầu bộc phát kinh tế. Những số liệu chính thức cho thấy năm ngoái có khoảng 130 ngàn người đã đến Australia, và con số người di trú đến từ Châu Á tăng vọt. Tuy nhiên con số cao nhất vẫn là những người đến từ nước Anh.
Nền kinh tế của Australia lèo lái những chính sách về nhập cư của nước này, hướng vào việc thu hút những người nhập cư để bổ sung cho đội ngũ lao động lành nghề còn đang bị thiếu hụt ở nước này.
Nạn thất nghiệp đang ở mức thấp kỷ lục, nhưng đơn giản là không có đủ những người có năng lực để tuyển dụng cho công việc. Những người di trú mới đến phải có trình độ học vấn hoặc tay nghề và phải hiểu tiếng Anh. Đang có nhu cầu cao về chuyên gia y tế, kế toán viên và thợ làm tóc.
Các số liệu mới nhất cho thấy có gần 100 ngàn người di trú có tay nghề đã đến Australia trong năm vừa qua, tính đến tháng 6. Cũng trong năm 2006, có 13 ngàn người tị nạn được tiếp nhận và 17 ngàn người được chấp thuận cho đoàn tụ với gia đình đã sinh sống ở Australia.
Số người đến từ Châu Á đang gia tăng, đặc biệt từ Aán độ và Trung Quốc. Nhưng Anh quốc vẫn đứng đầu về số người mới nhập cư, và kế đó là New Zealand.
Những người Anh trẻ tuổi mới nhập cư này thích những thách đố ở nơi sinh cư mới, nhưng vẫn nhớ nhà.
Người phụ nữ gốc Scotland này nói rằng bà được bảo lãnh và đây là một cơ hội rất hấp dẫn và đem lại khá nhiều tiền nên bà quyết định nắm lấy. Theo bà, nếu so sánh với điều kiện làm việc ở tại quê nhà, ở đây cũng phải làm việc cật lực và vẫn phải nuôi những hy vọng như thế. Chỉ có điều là những ưu tiên ở đây được định một cách khác. Chẳng hạn như, người ta quý trọng thời gian rảnh rỗi của cá nhân và những sinh hoạt vui chơi giải trí ngoài trời nhiều hơn. Bà nói rằng tất nhiên là người ta cảm thấy nhớ gia đình, nhưng điều giữ bà ở lại Australia là bà thực sự thấy yêu mến đất nước này.
Người đàn ông đến từ Anh quốc này nói rằng bạn không bao giờ quên được mặc cảm đã rời bỏ gia đình, những người của những thế hệ trước đã không đến đây được. Chuyện quan hệ bạn bè thì không phải là vấn đề lớn vì bạn có thể có những người bạn mới ở Australia, nhưng bạn không thể tạo dựng một gia đình mới.
Những người nhập cư thường phải chờ đợi một vài năm để trở thành công dân Australia. Những quy định về việc nhập cư sắp sửa được siết chặt.
Chẳng bao lâu nữa thì những người xin nhập quốc tịch tại Australia sẽ phải qua một kỳ thi về những giá trị và nền văn hóa của nước này. Họ cũng sẽ phải qua kỳ sát hạch về khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh.
Những người chỉ trích thì nói rằng những kế hoạch của chính phủ là theo kiểu ban bố và có tính cách lăng mạ. Họ cho rằng những biện pháp được đề ra để gây khó khăn cho những người di trú đến từ các quốc gia Hồi giáo muốn trở thành công dân Australia. |
2622_1308300274__1467_266_s.jpg
Vào ngày 14 tháng 4 năm 2008, Bộ trưởng bộ Nhập cư và Công dân, thượng nghị sĩ Chris Evans tuyên bố thiết lập quy trình xem xét toàn diện một cách độc lập được chỉ đạo bởi chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp là bà Babara Deegan, lý do là chương trình cấp visa Subclass 457 ngày càng được nhiều người quan tâm. Bản báo cáo cuối cùng được hoàn thành vào tháng 10 năm 2008.
Cấp hồ sơ số 1
Minimum Salary Level (MSL) (mức lương tối thiểu) và Labour Agreements (LA) (hợp đồng lao động)
Hồ sơ đầu tiên này đề cập về những yêu cầu của mức lương tối thiểu và những thỏa thuận trong hợp đồng lao động trong trường hợp visa Subclass 457 được cấp. Hồ sơ cũng chú trọng đến những thông tin phản hồi từ những người giữ tiền đặt cược quan tâm đến hai vấn đề này.
Cấp hồ sơ số 2:
English Language Requirement (yêu cầu về Anh ngữ) and Occupational Health and Safety (OH&S) ( an toàn và sức khỏe nghề nghiệp)
Hồ sơ thứ hai này đề cập đến những yêu cầu về Anh ngữ và vấn đề An toàn và sức khỏe nghề nghiệp xung quanh chương trình visa Subclass 457.
Cấp hồ sơ số 3
Integrity and Exploitation (liêm chính và bóc lột)
Hồ sơ thứ ba này đề cập đến vấn đề liêm chính và bóc lột xung quanh chương trình cấp visa Subclass 457, cũng như việc giám sát và ưng thuận.
Báo cáo sau cùng:
Vào ngày 14 tháng 11 năm 2008, Bộ trưởng Nhập cư và Công dân , Thượng nghị sĩ Chris Evan, đã đưa ra báo cáo về chương trình Visa Subclass 457 Integrity Review (xem xét toàn diện về visa subclass 457)
Báo cáo đã được nộp cho Skilled Migration Consultative Panel (Ban hội thẩm và cố vấn việc nhập cư theo diện tay nghề) để xem xét thư đề nghị. Ban hội thẩm và cố vấn việc nhập cư theo diện tay nghề bao gồm người đại diện của các tập đoàn công nghiệp và kinh doanh cũng như chính quyền và các hiệp hội bang.
Ban cố vấn sẽ cung cấp những thông tin phản hồi và đề nghị với chính phủ về bản báo cáo này, bao gồm:
- Bãi bỏ mức lương tối thiểu đang được thị trường chấp nhận, đó là mức lương thấp hơn $100 000 dành cho những người có visa ngắn hạn.
- Phát triển hệ thống cấp phép hay hạn chế rủi ro để đảm bảo thủ tục xin visa ít rủi ro giúp chủ tuyển dụng có thể nhanh chóng tuyển được người mình đang cần.
- Đưa ra danh sách mới nhất cập nhật những nghề được cấp visa ngắn hạn.
- Giới hạn số visa để tránh trường hợp định cư quá tám năm ở Úc. (ví dụ như hai visa thời hạn 4 năm hay bốn visa thời hạn 2 năm), trong khi đó tạo điều kiện thường trú cho những người có những kỹ năng ngôn ngữ đạt yêu cầu.
Labour Agreements (những thỏa thuận lao động)
Thông tin về chương trình:
Chương trình Labour Agreements như một hợp đồng chính thức để tuyển nhiều công nhân lành nghề từ nước ngoài. Cả hai loại visa ngắn hạn và dài hạn đều được cấp theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Hợp đồng thường có hiệu lực trong khoảng thời gian 2 đến 3 năm.
Chương trình này dành cho ai?
Những tình huống có lợi cho chủ lao động khi tham gia chương trình Labour Agreement bao gồm:
- · Hiệp hội công nghiệp đã hoàn toàn đồng ý việc cấp cho visa Subclass 457 Temporary Business (Long Stay) và xin thường trú theo chương trình xin visa Labor Agreement (Subclass 120 và 855)
- · Những nghề không có trong danh sách nghề nghiệp được phê chuẩn để cấp Temporary Business (Long Stay) Subclass 457 visa, Employer Nomination Scheme (ENS) hay Regional Sponsored Migration Scheme nhưng đang thiếu hụt lao động hoặc những nghề nghiệp không thuộc sự quản lý của Australian Standard Classification of Occupations (ASCO)
- · Cần một số lượng lớn nhân công cho những dự án có thời hạn tương đối ngắn và lịch làm việc chặt chẽ, và những dự án đó diễn ra ở những địa phương thiếu đội ngũ lao động chuyên nghiệp hay nhân viên thương mại.
- · Đầu vào của những công nhân nước ngoài làm việc cho một ngành công nghiệp cụ thể có chất lượng tốt nhất được chương trình Labour Agreement cung cấp.
- · Khi một nhà kinh doanh tuyển nhân công để cung cấp cho ngành kinh doanh khác hoặc mướn nhân công phục vụ cho ngành kinh doanh khác.
Chú ý: Luật di trú soạn lại vào ngày 15 tháng 10 năm 2007 đã loại trừ nhóm này ra khỏi chương trình Standard Business Sponsorship.
Chi phí để tham gia chương trình là bao nhiêu?
Ta không cần đóng phí để tham gia chương trình
Đối với loại visa ngắn hạn, ta cần đóng phí không hòan lại cho mỗi lần nộp đơn bổ nhiệm xin visa và đơn xin visa Subclass 457 Temporary Business (Long Stay)
Đối với loại visa dài hạn, chỉ cần đóng phí không hoàn lại cho mỗi lần nộp đơn xin visa; không cần đóng phí gửi đơn bổ nhiệm.
Chương trình cho phép tôi làm những gì?
Với chương trình này, bạn có thể tuyển nhiều công nhân từ nước ngoài có visa ngắn hạn/dài hạn.
Visa ngắn hạn
Với loại visa này người mà bạn tuyển từ nước ngoài có thể:
- · Làm việc ở Úc nhiều nhất là bốn năm
- · Đi cùng với người trong gia đình có đủ tư cách (bao gồm visa Subclass 457 Temporary Business (Long Stay), vợ/chồng và con cái) sang Úc. Người đi cùng có thể sang Úc làm việc hoặc đi học.
- · Sau khi đến Úc, không giới hạn về số lần ra vào nước Úc
|
2621_1308300413__1692_441_s.jpg
Western Australia tự hào có những bãi biển cát trắng dài hàng ngàn kilomet, một phong cảnh tuyệt vời, một bầu trời xanh bất tận cùng với một lối sống hiện đại nhưng cũng đầy thư giãn.Western Australia được xem là một trong những nơi lý tưởng nhất cho người nhập cư
Western Australia là tiểu bang lớn nhất nước Úc có diện tích 2.645 km2 với dân số hơn 2.1 triệu người.
Từ khí hậu nhiệt đới, bãi biển xanh ngọc và những hẻm núi ngoạn mục ở phía bắc cho tới những khu rừng, nhà máy rượu vang và khí hậu Địa Trung Hải ở tây nam, mỗi khu vực ở Western Australia đều có đặc điểm riêng biệt phù hợp với sở thích của từng người.
Western Australia là một tiểu bang rộng lớn nhưng có hệ thống giao thông phát triển cao. Lệ phí giao thông là miễn phí khi đi từ thủ đô Perth đến các trung tâm ở những địa phương khác.
Chương trình General Skilled Migration (định cư theo diện tay nghề) ở Western Australia
Nếu bạn có bằng cấp sau cao đẳng ít nhất tương đương với bằng cử nhân Úc, giấy chứng nhận học nghề và kinh nghiệm làn việc trong lĩnh vực liên quan thì bạn đã có đủ tư cách để nộp đơn xin một trong các loại visa thuộc chương trình General Skilled Migration.
Stage Migration Centre (trung tânm di trú của bang) sẽ bảo trợ cho hai loại visa là Skilled – Sponsored Visa và Skilled – Regional Sponsored Visa. Hai visa này sẽ tạo điều kiện để người nhập cư sinh sống và làm việc tại Western Australia, đặc biệt là những địa phương đang thiếu lao động.
Những ai nhập cư theo diện tay nghề nếu được bang bảo trợ thì sẽ có những ưu tiên như mức điểm đậu do DIAC đề ra sẽ thấp hơn., được cấp nhanh visa thường trú nếu có nghề nghiệp nằm trong danh sách State’s Priority Skills List hay sẽ có nhiều cơ hội xin thường trú nếu có nghề nghiệp nằm trong danh sách Skills in Demand List.
Một số loại visa tay nghề khác
- Skilled – Independent
- Skilled – Sponsored (được người thân bảo lãnh)
- Skilled – Regional Sponsored (được người thân bảo lãnh)
Làm thế nào để nộp đơn xin bảo trợ của bang?
- Kiểm tra xem nghề của bạn có trong danh sách Priority Skills List hay Skills in Demand List không.
- Hoàn tất đơn xin bảo trợ on-line cho loại visa Skilled Sponsored hoặc Skilled Regional Sponsored. Bạn phải gửi kèm CV và Positive Skill Assessment (hồ sơ thẩm định tay nghề)
- Một khi Stage Migration Centre nhận được tất cả những hồ sơ cần thiết thì đơn của bạn sẽ được thẩm định.
- Nếu đơn bạn thành công và nhận được sự bảo trợ của Western Australia thì bạn sẽ được gửi thư thông báo và tư vấn các bước thủ tục tiếp theo.
Skilled Sponsored Visa (SSV)
Skilled Sponsored Visa sẽ cho phép những ai di trú theo diện tay nghề đủ tư cách định cư thường trú ở bất cứ vùng nào của Bang.
Để nộp đơn xin Skilled Sponsored Visa bạn phải được chính quyền bang Western Australia bảo trợ. Nên lưu ý được bang bảo trợ không có nghĩa là được DIAC cấp visa.
Tiêu chuẩn đủ tư cách định cư thường trú:
- Có nghề nghiệp nằm danh sách Priority Skills List của bang.
- Cam kết sống và làm việc tại Western Australia
- Tham gia chương trình khảo sát mỗi 6 tháng trong hai năm
- Mang đủ tiền đến bang để trang trải phí định cư ban đầu.
Bạn cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản của DIAC :
- Đạt đủ điểm point test mà DIAC yêu cầu là 100
- Dưới 45 tuổi vào thời điểm nộp đơn xin visa
- Có trình độ tiếng Anh ít nhất ở mức ‘vocational’ (một số nghề yêu cầu cao hơn)
- Có văn bằng được thẩm định là tương đương với tiêu chuẩn Úc và
- Có kinh nghiệm làm việc gần đây theo mức yêu cầu của nghề bạn chọn hoặc có văn bằng của một khóa học ít nhất hai năm tại Úc trong vòng 6 tháng gần đây.
Skilled Regional Sponsored Visa (SRSV)
Skilled Regional Sponsored Visa (SRSV) tạo điều kiện thuận lợi cho việc định cư thường trú. Nếu đơn xin visa của bạn thành công, bạn sẽ được cấp visa tạm trú ba năm và sau khi bạn đã sống hai năm và làm việc được 12 tháng thì bạn sẽ có đủ tư cách xin visa tay nghề dài hạn.
Để nộp đơn xin Skilled Regional Sponsored Visa bạn phải được chính quyền bang Western Australia bảo trợ. Nên lưu ý được bang bảo trợ không có nghĩa là được DIAC cấp visa
Tiêu chuẩn đủ tư cách định cư tạm trú:
Những vùng địa phương thuộc Western Austaralia hàm chỉ các địa phương trên toàn bang trừ thủ đô Perth của bang.
Bạn cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản của DIAC :
- Đạt đủ điểm point test mà DIAC yêu cầu là 100
- Dưới 45 tuổi vào thời điểm nộp đơn xin visa
- Có trình độ tiếng Anh ít nhất ở mức ‘vocational’ (một số nghề yêu cầu cao hơn)
- Có văn bằng được thẩm định là tương đương với tiêu chuẩn Úc và
- Có kinh nghiệm làm việc gần đây theo mức yêu cầu của nghề bạn chọn hoặc có văn bằng của một khóa học ít nhất hai năm tại Úc trong vòng 6 tháng gần đây.
Lưu ý: Chính quyền bang Western Australia không tham gia chương trình Concessional English program (chương trình miễn giảm trình độ tiếng Anh)
Nộp đơn online:
Để nộp đơn online xin bảo trợ cho visa Skilled Sponsored (SSV)và Skilled Regional Sponsored (SRS), đầu tiên bạn phải đọc và hiểu những điều kiện và điều khoản bên dưới
Xin lưu ý rằng bạn chỉ có hai tiếng để hoàn tất mỗi trang của đơn. Một khi quá hai tiếng, những thông tin bạn đã cung cấp sẽ bị mất và bạn sẽ phải tiến hành lại từ đầu.
Những điều kiện và điều khoản
- Những thông tin cung cấp trong đơn được State Migration Centre dùng để đánh giá người nộp đơn có được chính quyền Western Australia bảo trợ hay không . Những thông tin này có thể sẽ được DIAC và các cơ quan đại diện di trú ở Western Australia kiểm chứng lại.
- Chính quyền Western Australia có thể bảo trợ người nộp đơn xin di trú nhưng DIAC mới là cơ quan có trách nhiệm đưa ra quyết định cuối cùng về việc cấp visa.
- Với visa SSV, người nộp đơn có nghĩa vụ sống và làm việc tại Western Australia ít nhất hai năm kể từ ngày đến. Thông tin cung cấp trong đơn phải có thật và chính xác và phải thể hiện sự quan tâm về việc làm và định cư ở Western Australia.
- Với visa SRS, người nộp đơn có nghĩa vụ sống tại một địa phương ở Western Australia bên ngoài thủ đô Perth ít nhất hai năm và làm việc tại đó ít nhất là một năm kể từ ngày đến. Thông tin cung cấp trong đơn phải có thật và chính xác và phải thể hiện sự quan tâm về việc làm và định cư ở các địa phương ở Western Australia bên ngoài thủ đô Perth.
- Người nộp đơn tự đánh giá mình đáp ứng được các điều kiện tiêu chuẩn để được bảo trợ xin visa SRS hay SSV
- Cần hiểu rõ rằng chương trình SRS và SSV cho người định cư theo diện tay nghề không bao gồm các trợ cấp an ninh xã hội của chính quyền như Medicare, Higher Education Contributions Scheme hay Centrelink.
- Người định cư có SSV visa sẽ không được hưởng các trợ cấp an ninh xã hội cho đến khi họ định cư thường trú ở Úc được hai năm
- Chính quyền Western Australia sẽ không chịu trách nhiệm về việc tìm việc làm hay hỗ trợ tài chính hay trợ giúp định cư cho những ai đến Western Australia theo diện tay nghề.
- Về SSV, người nộp đơn phải có trách nhiệm giữ liên lạc với chính quyền Western Australia trong vòng 24 tháng kể từ ngày tới để nhận và hoàn thành cuộc khảo sát 6 tháng một lần.
- Chỉ có những đơn điền thông tin đầy đủ mới được State Migration Centre xem xét. Những đơn không hoàn chỉnh được gửi lại cho người nộp đơn.
|
2606_1308300525__1908_196_s.jpg
Những đơn được ưu tiên là những đơn được chủ lao động hay chính quyền bang bảo trợ, những nghề trong lĩnh vực kinh doanh và những nghề có trong danh sách CSL.
Di trú theo diện tay nghề
C1: Những thay đổi gì đã được thông báo trong chương trình Skilled Migration?
Những thay đổi này đã được Bộ trưởng Bộ Di trú và Công dân thông báo gồm:
- Điều khoản mới 499 theo sự chỉ đạo của bộ về các thủ tục ưu tiên.
- Giới thiệu danh sách những ngành nghề đang thiếu hụt (CSL)
- Chính phủ Bang/Vùng miền có nhiều quyền thực thi pháp lý hơn để giải quyết sự thiếu hụt nhân công trong những ngành nghề quan trọng
C2: Những người nộp đơn nào được ưu tiên tiến hành làm thủ tục?
Những đơn được ưu tiên là những đơn được chủ lao động hay chính quyền bang bảo trợ, những nghề trong lĩnh vực kinh doanh và những nghề có trong danh sách CSL.
C3: Khi nào những thay đổi này được áp dụng?
Những thay đổi này sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009
C4: Tại sao có những thay đổi này?
Trong 2008 Budget (ngân sách 2008) , số lượng ngành nghề trong chương trình di trú 2008-09 đã tăng đáng kể lên 133 500 chỗ như là một phần trong chiến lược của Chính phủ để chống lại nguy cơ lạm phát gia tăng do áp lực về việc nâng tiền lương. Tuy nhiên, kể từ 2008 Budget, nền kinh tế nước Úc đã có những thay đổi quan trọng do kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng này đã làm suy yếu nền kinh tế nước Úc theo dự đoán gần đây của Mid Year Economic and Fiscal Outlook (MYEFO). Để đối mặt với những thay đổi trong tình huống hiện nay, ngài bộ trưởng đã ra thông báo sẽ tập trung hơn vào chương trình di trú theo diện tay nghề 2008-09. Thông báo này bao gồm ưu tiên tiến hành thủ tục cho những đơn được chủ lao động hay chính quyền bang bảo trợ, những nghề trong lĩnh vực kinh doanh và những nghề có trong danh sách CSL. Những ai đang muốn định cư ở Úc có ngành nghề trong danh sách CSL sẽ được ưu tiên hơn. Bao gồm những đơn đang được giải quyết trong thời gian ra thông báo cũng như những đơn được nhận sau này.
C5: Đây là những thay đổi tạm thời hay lâu dài?
Chương trình di trú theo diện tay nghề tiếp tục được xem xét và đánh giá dựa theo nhu cầu kinh tế và xã hội nước Úc. Chương trình sẽ thay đổi khi những nhu cầu này thay đổi.
C6: Liệu chương trình có bị ngưng lại chính thức hoặc không chính thức?
Nếu chương trình vượt quá kiểm soát của bộ, thì các thủ tục xem xét đơn sẽ bị ngưng lại cũng như ngừng cấp visa.
C7: Có gì khác nhau trong thủ tục tiến hành giữa chương trình trong nước và ngoài nước?
Không, thủ tục xét đơn ưu tiên có ảnh hưởng như nhau đến các đơn xin trong nước và ngoài nước.
C8: Các ngành nghề và công nghiệp nào bị ảnh hưởng?
Những ngành nghề không có trong danh sách CSL sẽ không được ưu tiên trừ khi người nộp đơn được chủ tuyển dụng bảo trợ hay được chính phủ bang/vùng miền đề cử hay bảo trợ.
Sự bảo trợ của chính quyền bang
C9: Chính phủ bang và vùng miền sẽ bảo trợ như thế nào?
Chính phủ bang và vùng miền có thể bảo trợ những người có nghề nghiệp trong danh sách thiếu hụt nhân công ở ban đó và có thể bảo trợ thêm 500 người có nghề nghiệp không có trong danh sách của bang. Người nộp đơn nên liên hệ trực tiếp với chính quyền bang/vùng miền để biết thêm thông tin về việc bảo trợ.
C10: Chính phủ bang và vùng miền sẽ đưa bao nhiêu người vào danh sách bổ sung thiếu hụt nhân công ở bang đó?
Số người có khả năng di trú có ngành nghề có trong danh sách thiếu hụt nhân công và được chính quyền bang bảo trợ là không giới hạn, trừ khi chương trình di trú theo diện tay nghề đã đạt dược tối đa tổng chỉ tiêu. Tuy nhiên mỗi bang được cấp chỉ tiêu 500 chỗ mỗi năm cho những ngành nghề không có trong danh sách thiếu hụt nhân công nhưng phải có trong danh sách Skilled Occupational List (SOL). Những chỉ tiêu không có trong danh sách này sẽ được cộng vào những chỉ tiêu có trong danh sách những ngành nghề thiếu hụt của bang.
C11: Danh sách những nghề đang thiếu hụt của bang là sao?
Mỗi bang đều có một danh sách riêng những nghề đang thiếu hụt nhân công. Mỗi bang hay vùng miền sẽ bảo trợ cho những người di trú có nghề nghiệp nằm trong danh sách thiếu hụt của bang đó để xin visa GSM. Những người nộp đơn được chính phủ bang bảo trợ sẽ được nhận thêm 10 điểm GSM trong bài test.
C12: Có giới hạn nào về loại tay nghề mà chính quyền bang sẽ đưa vào danh sách thiếu hụt nhân công của bang đó hay không?
Danh sách thiếu hụt tay nghề của mỗi bang đưa ra những nghề nghiệp được cho là đang không có đủ nhân công. Giớ hạn duy nhất là những nghề trong danh sách thiếu hụt tay nghề của mỗi bang phải nằm trong danh sách GSM SOL
C13: Chính quyền bang và vùng miền có thể bảo trợ những người có tay nghề không có tronng danh sách CSL hay không?
Có thể, chính quyền bang và vùng miền có thể bảo trợ những người có tay nghề có trong danh sách SOL mà không có tronng danh sách CSL . Có 500 chỉ tiêu ngoài danh sách để bảo trợ cho những người nộp đơn khác.
C14: Có gì thay đổi trong danh sách Migration Occupation in Demand List (MOLD)?
Không có gì thay đổi trong danh sách MOLD. MOLD sẽ tiếp tục xem xét để quyết định cần thay đổi những gì để phù hợp với mục đích của chương trình di trú theo diện tay nghề. Theo hướng dẫn của điều khoản 499, những người nộp đơn để di trú theo dạng lao động phổ thông có nghề nghiệp trong danh sách MOLD sẽ được ưu tiên tiến hành làm thủ tục sau những người nộp đơn có nghề trong danh sách CSL và những người được bảo trợ hay bổ nhiệm bởi chính quyền bang hay vùng miền.
C15: Khi nào việc xem xét những nghề có trong danh sách MOLD được tiến hành?
Theo dự kiến, việc xem xét những nghề có trong danh sách MOLD được tiến hành vào đầu năm 2009.
C16: Loại subclass nào sẽ bị ảnh hưởng bởi thông báo này?
Sự xuất hiện của CSL cũng như những thay đổi trong sự ưu tiên thủ tục sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các đơn xin subclass GSM, bao gồm những đơn gửi sau ngày 1 thang1 năm 2009 và những đơn gửi trước đó nhưng chưa được cấp visa. Những người nộp đơn xin subclass 485 và 887 sẽ không bị ảnh hưởng.
C17: Có bao nhiêu visa được cấp trong chương trình 2007-08 cho những nghề trong danh sách CSL?
Trong suốt chương trình năm 2007-08, đã có 23 424 trường hợp được cấp tính cho tất cả các loại subclass đối với những nghề có trong danh sách CSL.
C18: Về những trường hợp đặc biệt, người đại diện/khách hàng hỏi thông tin ở đâu.?
Đầu tiên, người đại diện hay khách hàng nên tham khảo những thông tin có sẵn trên website của bộ. Trên đó cung cấp những thông tin hữu ích vể những thay đổi và những khả năng có thể xảy ra.
Không không tìm thấy câu trả lời trên website thì có thể liên hệ theo đường dây của General Skilled Migration (cơ quan Di trú theo diện tay nghề)
- 1300 364 613 (trong nước Úc) với giá tiền như cuộc gọi địa phương.
- +61 1300 364 613 (ngoài nước Úc) (phí điện thoại theo quy định của nước bạn)
C19: Những trường hợp khác
Những ai có những câu hỏi chung chung về những thay đổi trong chương trình di trú nên tham khảo những thông tin có sẵn trên website của bộ. Còn những câu hỏi đặc biệt hơn thì khách hàng có thể liên hệ theo đường dây của General Skilled Migration (cơ quan Di trú theo diện tay nghề)
- 1300 364 613 (trong nước Úc) với giá tiền như cuộc gọi địa phương.
- +61 1300 364 613 (ngoài nước Úc) (phí điện thoại theo quy định của nước bạn)
C20: Trước đây đã có tình trạng này xảy ra chưa?
Vào năm 1997, bộ đã đưa ra thủ tục ưu tiên trong chương trình định cư cùng người thân. Trong trường hợp đó, người nộp đơn được công dân Úc bảo trợ đi cùng trẻ em sẽ được ưu tiên.
Danh sách MOLD được cập nhật thường xuyên, dựa trên nghiên cứu thị trường lao động của DEEWR, để đáp ứng những thay đổi trong sự thiếu hụt tay nghề ở Úc.
C21: Quy trình xét ưu tiên thủ tục hiện nay ra sao?
Hướng ưu tiên tiến hành thủ tục cho những đơn xin visa dài hạn theo thứ tự như sau:
- Được chủ lao động bảo trợ
- Được chính quyền bang hay vùng miền bảo trợ
- Nghề nghiệp có trong danh sách CSL
- Nghề nghiệp có trong danh sách MOLD
- Những đơn khác.
Hướng ưu tiên tiến hành thủ tục cho những đơn xin visa ngắn hạn theo thứ tự như sau
- Được chính quyền bang hay vùng miền bảo trợ
- Được gia đình bảo lãnh và nghề của người nộp đơn có trong danh sách CSL
- Những đơn khác.
C22: Những đơn trong giai đoạn cuối của thủ tục sẽ giải quyết ra sau và người nộp đơn sẽ nộp giấy khám sức khỏe và tâm thần cho bộ ?
Những đơn gần hoàn tất sẽ được bộ di trú hoàn thành kèm theo giấy khám sức khỏe và tâm thần.
C23: Những đơn không phải di trú theo diện tay nghề?
Những biện pháp này chỉ áp dụng cho những đơn xin di trú theo diện tay nghề.
Sinh viên:
C1: Những thay đổi này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới sinh viên quốc tế?
Úc là đất nước có danh tiếng về chất lượng giáo dục và đào tạo. Chúng tôi tiếp tục chào đón những sinh viên du học, và cảm kích những đóng góp của họ trong đời sống học thuật và vào xã hội họ đang sống.
Không có thay đổi nào được đề nghị cho chương trình cấp visa cho sinh viên. Quá trình chuyển đổi từ visa của sinh viên sang GSM cũng được giữ nguyên.Tuy nhiên, thủ tục xin visa cho sinh viên và thủ tục nộp đơn cho chương trình General Skilled Migration (GSM) là 2 quá trình riêng biệt. Cần chú ý rằng những loại visa sinh viên được cấp cho mục đích giáo dục, còn GSM chủ yếu cho nhu cầu thị trường lao động ở Úc.
C2: Tôi là sinh viên quốc tế, tôi có thể nộp đơn xin thường trú không?
Sinh viên quốc tế đủ điều liện xin thường trú trước khi xuất hiện những thay đổi này vẫn có đủ tư cách xin thường trú.
Sinh viên quốc tế tốt nghiệp theo hệ thống giáo dục ở Úc và đáp ứng những tiêu chuẩn cần thiết sẽ đủ điều kiện xin thường trú theo chương trình GSM. Những ai đang có visa sinh viên cần phải đủ điểm của bài test và những điều kiện cơ bản như mức thành thạo tiếng Anh đủ yêu cầu và có bằng cấp hay giấy chứng nhận ít nhất hai năm học ở Úc.
Trong khi những tiêu chuẩn của chương trình GSM không thay đổi, Úc vẫn tiếp tục xem xét và điều chỉnh chương trình nhập cư để đáp ứng với những thay đổi trong nhu cầu và từng tình huống. Những ai có dự định nộp đơn xin visa thường trú nên tiếp tục xem những thay đổi trên website.
C3: Khóa học tôi đang theo không cấp bằng cho nghề không có trong danh sách Critical Skills List (CSL), vậy tôi có khả năng xin visa thường trú không?
Những thay đổi này không ảnh hưởng đến điều kiện xin GSM. Điểm bài test và những điều kiện cho chương trình General Skilled Migration không thay đổi. Sinh viên đang tham gia khóa học có 50 hoặc 60 điểm theo ngành nghề có trong danh sách Skilled Occupation List (SOL) vẫn đủ điều kiện nộp đơn cho GSM. Sinh viên có 60 điểm nghề vẩn có đủ điều kiện đạt thêm điểm thưởng nếu như nghề của họ có trong danh sách Migration Occupations in Demand List (MOLD) Danh sách SOL và MOLD không thay đổi.
Những người nộp đơn đủ tư cách có nghề nghiệp không có trong danh sách CSL vẫn có khả năng nộp đơn cho GSM. Tuy nhiên, thủ tục xin visa sẽ không được nhanh. Những ai có ngành nghề trong danh sách CSL sẽ được ưu tiên.
C4: Tôi có thể xin visa nào khác ngoài visa theo diện tay nghề?
Những sinh viên quốc tế đang có visa sinh viên có thể tiếp tục xin những visa tạm trú hay thường trú khác miễn là họ có những tư cách cần thiết.
C5: Khóa học tôi đang theo không cấp bằng cho nghề không có trong danh sách Critical Skills List (CSL), vậy tôi có thể ghi danh khóa học khác?
Những sinh viên muốn thay đổi khóa học đầu tiên cần thảo luận với ban giám hiệu về cách thực hiện. Những sinh viên muốn đổi khoa cần phải nộp đơn xin visa sinh viên theo loại subclass khác và cần liên hệ với Bộ Nhập cư và Công dân. (DIAC)
C6: Những thay đổi nào được đề nghị cho chương trình sinh viên?
Tại thời điểm này không có những thay đổi nào trong chương trình visa sinh viên.
Subclass 457 – Business (Long stay) visa
C1: Những thay đổi này có ảnh hưởng đến đơn xin visa 457 không?
Không
C2: Tôi có thể nộp đơn xin GSM trong khi đang có visa 457?
Có thể, bạn có thể nộp đơn xin visa GSM từ bên ngoài nước Úc khi đang có visa 457 miễn là đáp ứng những điều kiện cơ bản. Tuy nhiên vì đây là loại visa bên ngoài nước Úc nên bạn phải ở ngoài nước Úc tại thời điểm được cấp visa và bạn không đủ tư cách xin visa bắc cầu. |
2603_1308300550__2006_564_s.jpg
Sẽ có nhiều bài update gần nhất trong thời gian tới.
Thay đổi trong danh sách ngành nghề được bảo lãnh của bang Victoria
Có một số thay đổi trong danh sách ngành nghề được bảo lãnh của bang Victoria. Các danh sách này luôn được cập nhật để phù hợp với thay đổi về nhu cầu ngành nghề của các nhà sử dụng lao động ở Victoria, những vị trí này không thể tìm kiếm trong địa phương.
Bang Victoria đã thực hiện một số thay đổi là thêm vào và loại bỏ một số ngành nghề và chuyên môn trong danh sách kỹ năng được bảo lãnh. Những thay đổi này có hiệu lực từ ngày 12/01/2009, có nghĩa là những hồ sơ được nộp trước đó cho đến gần ngày 12/01/2009 sẽ được xét dựa trên danh sách ngành nghề được bảo lãnh của bang trước đó. Đối với những hồ sơ xin visa do chính phủ bang Victoria chỉ định được nộp sau ngày 12/01/2009, chính phủ sẽ chỉ chấp thuận cho những hồ sơ có ngành nghề được liệt kê trong danh sách đã cập nhật.
Bộ Quốc tịch và Nhập cư (DIAC) vừa công bố hạn ngạch là 500 vị trí cho mỗi bang hoặc hạt dành cho các ngành nghề nằm ngoài danh sách. |
2600_1308300665_Le-Cordon-Bleu-la-tr_1676_319_s.jpg
Thứ tư ngày 1 tháng 4 năm 2009 - Chính phủ đã công bố những thay đổi trong chương trình visa hạng 457 nhằm đảm bảo
Thứ tư ngày 1 tháng 4 năm 2009 - Chính phủ đã công bố những thay đổi trong chương trình visa hạng 457 nhằm đảm bảo sẽ tiếp tục cung cấp cho ngành công nghiệp những kĩ năng cần thiết mà không làm mất đi cơ hội việc làm cũng như các chương trình đào tạo trong nước.
Những biện pháp này đã được áp dụng và phát triển mạnh mẽ trong năm 2008, theo như cam kết của Chính phủ là nhằm thi hành một chuỗi cải cách lâu dài cho chương trình visa hạng 457 vào năm 2009 này, với mục tiêu nâng cao khả năng và tính thống nhất những kĩ năng cần thiết cho một nền kinh tế.
Những cải cách này bao gồm việc hưởng ứng những lời hướng dẫn trong bài phê bình của ông Deegan về tính thống nhất của chương trình visa hạng 457 và quan điểm của những người giữ tiền đặt cọc trước Ban hội thẩm tư vấn về vấn đề nhập cư theo diện tay nghề.
Chính phủ sẽ tiếp tục cân nhắc những biện pháp xa hơn nữa trong bối cảnh ngân quỹ năm 2009.
Chương trình visa hạng 457 đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Úc, là một chương trình visa tạm được thiết lập ra theo nhu cầu của các ông chủ về kĩ năng làm việc mà lao động trong nước không đáp ứng được. Chương trình này cho phép các ông chủ đánh giá được những kĩ năng mà họ cần, với những công nhân nước ngoài sau đó sẽ trở về nước với những kĩ năng không còn cần thiết.
Chương trình visa hạng 457 phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 2003 – 2007 giống như một sự kết hợp việc giữa bùng nổ các nguồn lực và thất bại trong đầu tư đào tạo ra những kĩ năng mở rộng còn thiếu cho sự phát triển của một nền kinh tế.
Với quy mô phát triển của chương trình, visa hạng 457 ngày càng đóng vai trò quan trọng bởi nó bổ sung cho việc tuyển dụng lao động trong nước và những sáng tạo trong đào tạo nhằm đáp ứng các kỹ năng cần thiết cho công nghiệp mà không phải tìm cách thay thế chúng.
Song song với sự lớn mạnh của chương trình, cộng đồng cũng thể hiện mối lo ngại về việc tăng lên đáng kể trong việc khai thác nguồn lao động nước ngoài, làm giảm đi mức lương của lao động trong nước, sau trường hợp một số ông chủ đã lạm dụng chương trình này trong những năm 2005 – 2007. Phần lớn những trường hợp này có liên quan đến mức độ thương mại của những người nắm giữ visa hạng 457 mà vốn tiếng Anh của họ rất ít và hầu như không biết , thậm chí thiếu mất cả kĩ năng chuyên ngành.
Chính sự phản hồi trước sự lạm dụng này khiến chính phủ phải đưa vấn đề nâng cao tính thống nhất của visa hạng 457 lên hàng đầu nhằm củng cố niềm tin của quần chúng vào chương trình.
Ngân sách năm 2008 bao gồm nhiều biện pháp trung gian nhằm giải quyết những lo lắng kể trên, như việc tăng mức lương tối thiểu lần đầu tiên trong 2 năm, thông qua pháp luật để củng cố việc giám sát và phê chuẩn quyền lực cũng như tài trợ cho các hoạt động chấp hành pháp luật ngày một tăng lên.
Các biện pháp thực hiện năm 2008 còn có cả việc bổ nhiệm Barbara Deegan vào ủy viên hội đồng của AIRC nhằm giám sát tính thống nhất của chương trình visa hạng 457 và việc lập ra Ban hội thẩm tư vấn về định cư theo diên tay nghề với mục đích đóng góp vào sự phát triển của một số cải cách lâu dài sẽ được thực hiện trong năm 2009.
Bảy biện pháp được công bố hôm nay là:
1. Hệ số lương tối thiểu cho tất cả những người mới và đang nắm giữ visa hạng 457 là 4,1% từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, cùng với báo cáo tổng thu nhập cho công nhân do ABS lập hồi năm ngoái. Điều này nhằm bảo đảm cho mức lương của người lao động nước ngoài tương xứng với lao động trong nước.
2. Việc áp dụng mức lương tối thiểu này có hiệu lực từ giữa tháng 9 năm 2009, với mục đích đảm bảo việc lao động nước ngoài sẽ không bị bóc lột và lao động trong nước sẽ không hề bị giảm đi.
3. Việc tăng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ tối thiểu từ 4.5 IELTS lên 5 IELTS cho các ứng viên đi theo chương trình visa hạng 457 đối với các nghề mậu dịch và bếp trưởng, nhằm giải quyết những lo lắng về việc bóc lột sức lao động của công nhân đến từ các quốc gia không nói tiếng anh, đồng thời muốn hướng tới việc chuẩn hóa trình độ ngoại ngữ theo chương trình visa hạng 457 với visa bảo lãnh thường trú cho những nghề mậu dịch.
4. Không ngừng đưa ra việc đánh giá kĩ năng chính thức cho người nộp đơn xin visa 457 từ những nước nhập cư có tỷ lệ rủi ro cao cho các nghề mậu dịch và đầu bếp từ ngày 1 tháng 7 năm 2009. Chính phủ sẽ tư vấn cho những người giữ tiền đặt cược trong việc hoàn thành một khung mẫu đánh giá mà có thể phản ánh tiêu chuẩn và đáp ứng những mong chờ của nước Úc.
5. Việc đưa ra yêu cầu mà các ông chủ đang tìm kiếm quyền sử dụng chương trình visa hạng 457 biểu hiện sự cam kết cho việc thuê lao động trong nước và nguyên tắc không phân biệt đối xử trong việc thuê lao động .... Điều này sẽ giúp giải quyết những lo lắng của họ khi sử dụng lao động nước ngoài.
6. Việc phát triển khung điểm chuẩn cho việc đào tạo nhằm làm rõ những đòi hỏi hiện tại cho các ông chủ và để chứng tỏ một sự giao phó cho việc đào tạo lao động trong nước.
7. Việc mở rộng của các hợp đồng lao động theo 5-7 nghề ASCO nhằm đảm bảo rằng các ông chủ đang sử dụng chương trình visa hạng 457 có thể đánh giá công việc thỏa mãn những yêu cầu về đào tạo và kĩ năng như trong nước.
Những biện pháp này đã phát triển tốt trong năm 2008 trước những phản hồi về tính thống nhất của chương trình visa hạng 457 và khi các đòi hỏi về kĩ năng ngày một cao, chương trình này vẫn luôn gia tăng rất mạnh.
Được 6 tháng cho tới tháng 12 năm 2008, số lượng người xin visa hạng 457 đang tăng lên với con số kỷ lục, trung bình có 700 người xin visa chính trong vòng một tuần, họ đều là những người nước ngoài muốn đến Úc theo diện visa hạng 457.
Chính sự phát triển chậm lại của nền kinh tế Úc do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã dẫn đến hậu quả là số người xin visa hạng 457 giảm xuống kéo theo việc áp dụng các biện pháp nêu trên để củng cố lòng tin của quần chúng vào chương trình cũng bị giảm xuống.
Trong vòng 3 tháng đầu năm 2009, có trung bình 430 hồ sơ xin visa chính trong vòng một tuần, họ đều là những người nước ngoài muốn đến Úc theo diện visa hạng 457. Điều này cho thấy chương trình đang có nhiều phản ứng trước những thay đổi của nền kinh tế.
Những biện pháp được công bố hôm nay thể hiện những tiến bộ mang tính chất nền tảng và lâu dài cho chương trình visa hạng 457.
|
|
2597_1308300695_Hoc-vien-Quan-ly-don_3648_331_s.jpg
Đa dạng về sắc tộc. Cứ năm người Canada thì có một người được sinh ra ở nước ngoài. Dựa trên kết quả điều tra dân số năm 2006.
Đa dạng về sắc tộc. Cứ năm người Canada thì có một người được sinh ra ở nước ngoài. Dựa trên kết quả điều tra dân số năm 2006, tình hình nhập cư trong những năm gần đây đang tăng lên chưa từng có từ trước đến nay. Họ chủ yếu sinh sống ở Toronto hoặc Vancouver. Theo số liệu thống kê, 10 dân tộc thiểu số thì có 6 dân tộc sinh sống ở hai thành phố này.Chiếm 40% dân số. Ở Montreal, 6 người thì có 1 người thuộc dân tộc thiểu số (được các nhà điều tra dân số xác định, họ không phải là thổ dân- không thuộc chủng tộc người da trắng), chiếm 16,5% dân số.
Giữa năm 2001 và 2006, tỉ lệ tăng trưởng dân số được sinh ra ở nước ngoài cao hơn 4 lần so với trong nước ở cùng thời điểm. Con số này vẫn tiếp tục có khuynh hướng gia tăng.
Điều này có ý nghĩa gì đối với lực lượng lao động? Rất nhiều.
Các báo cáo về số liệu thống kê dân số cho thấy người nhập cư đến Canada vào những năm 1990 chiếm 70% tỉ lệ tăng trưởng lực lượng lao động trên toàn quốc ở giai đoạn giữa năm 1991 và 2001. Vào năm 2011- do dân số giảm- Canada sẽ dựa hoàn toàn vào chương trình nhập cư để tăng thị trường lao động trên toàn nước. Vào năm 2031, họ sẽ dựa hoàn toàn vào chương trình nhập cư để tăng dân số. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.
Các doanh nghiệp Canada hầu như không đề cập đến nguồn lao động đa dạng này như trước đây và họ đang ước tính chi phí, Ratna Omidvar, chủ tịch Maytree Foundation, một doanh nghiệp tư nhân phi lợi nhuận ở Toronto cho biết, đã mở cửa nhằm mục đích đấu tranh chống nghèo nàn và hợp tác với doanh nghiệp giúp đỡ lao động nhập cư vận dụng kiến thức và kinh nghiệm của họ để làm việc. Hội nghị Ban nghiên cứu Canada ước tính hao tổn cho nền kinh tế trong nước nếu không tận dụng kỹ năng của người nhập cư vào tất cả các lĩnh vực là ở khoảng giữa 2,4 tỉ đô la và 3,4 tỉ đô la/ năm. “Chỉ có 4 trong 10 người nhập cư có kỹ năng là đang tham gia vào lực lượng lao động ở cấp độ vận dụng được vốn kinh nghiệm của họ,” Bà Omidvar cho biết.
Với tình hình kinh tế đang hãm phanh và thị trường lao động giảm sút, nhiều người có thể tranh cãi, tại sao chúng ta phải quan tâm? “Mục tiêu này có những ưu tiên ngắn hạn và dài hạn, và chúng ta phải giải quyết cả hai,” Bà Omidvar cho biết. “Chương trình nhập cư không là giải pháp duy nhất cho các vấn đề về lực lượng lao động, nhưng chúng ta đã phớt lờ nó vào thời điểm nguy hiểm của chúng ta.”
Và chúng ta không quên sự thay đổi của lực lượng lao động đang dần lộ diện, bị lực lượng lao động từ trong thời kì bùng nổ dân số đẩy vào thế nguy hiểm- 9 triệu lao động- đang chuẩn bị về hưu. “Vâng, nền kinh tế đang suy yếu, nhưng các yếu tố về nhân khẩu là thực,” Anne Sado, Hiệu trưởng trường George Brown, Toronto, cho biết.
“Chẳng hạn, tuổi nghỉ hưu trung bình của một y tá ở Ontario là 47. Nếu chúng ta chưa nhận ra khả năng và tiêu chuẩn của người mới nhập cư vào Canada, thì sẽ gặp khó khăn về quyền công dân ở nơi chúng ta cần họ.” Có thể rơi vào các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ở các thành phố lớn đa sắc tộc- Toronto, Vancouver và Montreal- như một đòn bẩy- nhằm mục đích tận dụng nguồn lao động nhập cư.
Hầu hết các thành phố đa sắc tộc của Canada đang phát triển mạnh- Thành phố đa sắc tộc: Dự án dành cho Lãnh đạo Doanh nghiệp lớn ở Toronto đã đưa ra 8 phát kiến nhằm giúp đa dạng hóa lãnh đạo trong doanh nghiệp, là dự án phi lợi nhuận và dựa trên phạm vi đô thị trên toàn khu vực Toronto rộng lớn. Ý tưởng thành phố đa sắc tộc được khai sinh trong Hội nghị thượng đỉnh Toronto 2007 tề tựu hơn 600 nhà lãnh đạo Toronto cùng nhau kêu gọi sự nỗ lực hết sức mình để đa dạng hóa lãnh đạo nhằm mục đích tạo ra một Toronto thịnh vượng hơn nữa.
Thành phố đa sắc tộc được Maytree Foundation và Toronto Summit Alliance tài trợ, hai nhà đồng sáng lập Hội đồng Việc làm cho Người nhập cư ở Toronto (viết tắt là TRIEC), gồm cả nhà tuyển dụng trong dự án, đề xuất và thực hiện các sáng kiến nhằm giúp người nhập cư có kỹ năng tiếp cận với thị trường lao động.
Các nhà tuyển dụng trong chương trình này cung cấp các khóa thực tập với tư cách là đối tác lớn trong việc đề xuất sáng kiến, đã cung cấp cho hơn 3,000 đối thủ trong thành phố. Họ cũng hợp tác với TRIEC để chứng minh các khóa đào tạo tốt nhất của mình qua đó dễ dàng áp dụng cho toàn khu vực Toronto, tạo ra nhiều ý tưởng sáng tạo. Chẳng hạn, Ngân hàng Hoàng Gia không còn hỏi về nơi học tập trên hồ sơ xin việc. Điều này có ý nghĩa gì? MBA ở đâu cũng là MBA. Và đó là một thay đổi lớn, bà Omidvar cho biết. “Điều đó có nghĩa là nhiều người được tuyển dụng có bằng cấp quốc tế có cơ hội làm đúng chuyên môn của họ. Một khi họ được gọi phỏng vấn, thật khó để từ chối họ.
“Nhưng chúng tôi vẫn chưa hài lòng với những gì đã làm được ở Toronto,” Bà Omidvar cho biết. “Hợp tác với McConnell Faminly Foundation, chúng tôi đang thực hiện phát kiến TRIEC cho các trung tâm đô thị khác. Vancouver đang bắt đầu có phản ứng lại với phát kiến này được các nhà tuyển dụng hướng dẫn, giống như ở Montreal.”
Có một doanh nghiệp mạnh lên nhờ đa dạng hóa, đặc biệt khi đề cập đến cấp độ quản lý và điều hành cấp cao. Các cuộc nghiên cứu quốc tế cho thấy đa dạng hóa cho ra những ý tưởng sáng tạo và kết quả là cải thiện thành quả tài chính. Không đa dạng hóa lãnh đạo, các doanh nghiệp sẽ gặp rắc rối với vấn đề suy nghĩ tập thể. |
2594_1308300745_Ten-cac-mon-an-dan-d_468_359_s.jpg
Ông Jason Kenny, Bộ trưởng bộ công dân nhập cư và đa văn hóa đã công bố về việc sinh viên quốc tế có thể nộp hồ sơ trực tuyến xin giấy phép du học
Ông Jason Kenny, Bộ trưởng bộ công dân nhập cư và đa văn hóa đã công bố về việc sinh viên quốc tế có thể nộp hồ sơ trực tuyến xin giấy phép du học.
Bộ trưởng cũng nói thêm: “Chúng tôi muốn Canada là sự lựa chọn của các sinh viên quốc tế. Vì thế dịch vụ trực tuyến này cũng là một cách để chính phủ tiếp tục thu hút và duy trì lượng sinh viên quốc tế”.
Kể từ khi dự án thí điểm được triển khai vào tháng 6 năm 2008, hơn 6000 sinh viên quốc tế đã nộp hồ sơ trực tuyến xin giấy phép làm việc ngoài khuôn viên trường học. Hiện tại, sinh viên quốc tế của hơn 200 viện giáo dục có thể nộp hồ sơ trực tuyến xin giấy phép này và cũng sẽ được xác nhận đủ điều kiện trực tuyến. Bộ trưởng Kenny cho rằng: “Chúng tôi cam kết phục vụ sinh viên quốc tế một cách hiệu quả nhất có thể. Dịch vụ trực tuyến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thụ lý hồ sơ, nâng cao cơ hội nghề nghiệp và tạo nên một sự thống nhất lâu dài”.
Việc bảo vệ thông tin cá nhân của mỗi ứng viên là rất quan trọng. Bộ Di trú đã đưa ra một hệ thống bảo vệ thích hợp bằng cách sử dụng Kênh bảo mật của Chính phủ Canada, nhằm đảm bảo sự bí mật cũng như tính riêng tư cho các giao dịch trực tuyến. Kênh bảo vệ này phù hợp với tiêu chuẩn của từng liên bang.
Những sinh viên đã có kinh nghiệm làm việc sau khi tốt nghiệp sẽ đủ điều kiện xin cư trú lâu dài theo diện Canadian Experience Class. |
2530_1308300775_Lam-gi-khi-ban-khong_452_469_s.jpg
Chương trình này không đòi hỏi đầu tư tiền 400,000 CDN cho chính phủ nhưng có yêu cầu doanh nhân cam kết sau khi định cư ở Canada phải mở công ty hoặc góp vốn vào công ty có sẵn ở Canada.
Các điều kiện cơ bản nhất:
- Quản lý & sở hữu một phần hoặc toàn phần doanh nghiệp chuẩn (*) ở Việt Nam và tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp tối thiểu là 2 năm.
- Sở hữu tài sản tương đương 300,000 CND
- Cam kết tham gia cổ phần tương đương 33% doanh nghiệp chuẩn của Canada sau khi được nhập cư hoặc tạo ra một công ty mới và tạo ra ít nhất 1 việc làm cho người bản xứ. Việc cam kết này phải được thực hiện ít nhất là 1 năm sau 3 năm định cư tại Canada.
- Hội tụ được 35 điểm theo thang điểm di trú của diện doanh nhân liên bang.
Diễn giải điều kiện thứ nhất
Doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn (*) phải đạt 2 trong 4 tiêu chuẩn sau:
- Phần trăm cổ phần nhân với số lượng nhân viên làm việc toàn thời gian tương đương hoặc nhiều hơn số lượng 2 nhân viên làm việc toàn thời gian/năm. Ví dụ: Cổ phần trong công ty 50%, có 30 nhân viên trong công ty: (50 x 30)/100 = 15. 15>2. Thỏa điều kiện.
- Phần trăm cổ phần trong công ty nhân với doanh thu bán hàng/năm tương đương hoặc nhiều hơn 500,000 CDN. Ví dụ, phần trăm cổ phần là 90%, doanh số bán hàng là 1,000,000 CDN/năm. Cách tính: (90 x 1,000,000)/100 = 900,000 CDN. Thỏa điều kiện.
- Phần trăm cổ phần trong công ty nhân với lãi sau thuế tương đương hoặc lớn hơn 50,000 CDN. Ví dụ: Lãi sau thuế là 1250 CDN và có 50% cổ phần trong công ty. Cách tính: (1250 x 50)/100 = 625 CDN. Không thỏa điều kiện.
- Phần trăm cổ phần trong công ty nhân với giá trị (tài sản + vốn) cuối năm của công ty tương đương hoặc lớn hơn 125,000 CDN. Ví dụ: Tổng nguồn vốn trong công ty là 150,000 CDN, cổ phần trong công ty là 50%. Cách tính: (150,000 x 50)/100 = 75,000 CDN. Không thỏa điều kiện.
Ưu điểm của chương trình:
- Không cần đặt cọc tiền cho chính phủ hoặc đi khảo sát.
- Không cần chứng minh 800,000 CDN như đầu tư Quebec, đầu tư liên bang
- Có thể dùng tiền đầu tư vào việc đầu tư thật sau khi được định cư.
- Có quyền chọn bất cứ thành phố nào để sinh sống, kinh doanh.
Khuyết điểm:
- Thời gian thụ lý khá lâu, 2,5 -3 năm.
- Có điều kiện kèm theo sau khi được định cư: phải thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp có sẵn và phải tham gia vào công việc quản lý doanh nghiệp.
|
2529_1308300793_Du-hoc-sinh-tai-uc-k_1919_568_s.jpg
Mỹ hiện chấp thuận các đơn xin gia hạn visa không di dân thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Trong nhiều trường hợp, đương đơn không còn cần tới ĐSQ Mỹ tại Hà Nội hoặc Tổng Lãnh sự tại TPHCM để phỏng vấn hoặc lấy dấu vân tay mới.
Đây là thông tin mới nhất vừa được ĐSQ Mỹ tại Việt Nam thông báo nhằm giúp nhiều người Việt Nam tới Mỹ tiết kiệm thời gian và chi phí. Theo đó, sinh viên, người lao động tạm thời, thương gia và khách du lịch có thể thường xuyên tận dụng hệ thống mới này.
Để có đủ tiêu chuẩn cho chương trình, đương đơn phải có mặt ở Việt Nam. Họ phải xin visa cùng loại như visa không di dân trước đây của họ. Cuối cùng, visa cũ không được quá hạn 12 tháng.
ĐSQ Mỹ tại Hà Nội sẽ thực hiện gia hạn visa cho các đương đơn trên toàn quốc, bao gồm cả những người cư trú tại khu vực thuộc thẩm quyền lãnh sự của Tổng Lãnh sự Mỹ tại TPHCM.
Trong trường hợp Đại sứ quán không thể chấp thuận hồ sơ vắng mặt, đương đơn sẽ được phỏng vấn tại Đại sứ quán ở Hà Nội hoặc Tổng Lãnh sự tại TPHCM, tuỳ thuộc vào nơi cư trú của họ. |
2525_1308300808_-Thong-tin-dinh-cu-u_445_986_s.jpg
Theo tin từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, từ ngày 22/4/2009, Hoa Kỳ thông báo qui định mới về visa đối với những người mang visa có quốc tịch Việt Nam thuộc một số diện. Qui định này cho phép mở rộng hạn từ một lần nhập cảnh/3 tháng thành nhiều lần nhập cảnh/12 tháng.
Đối tượng được xem xét mở rộng hạn Visa bao gồm: Ngoại kiều quá cảnh; Thuỷ thủ; Người lao động tạm thời; Đại diện cơ quan thông tin, báo chí; Người được điều chuyển giữa các công ty; Học sinh phổ thông; Người nước ngoài có khả năng xuất chúng; Vận động viên thể thao, nghệ sĩ và những người hoạt động trong lĩnh vực giải trí; Người nước ngoài làm việc về lĩnh vực tôn giáo.
Việc mở rộng hạn visa tạo điều kiện cho người mang visa linh hoạt hơn trong việc đi lại quốc tế giữa Hoa Kỳ và các nước thứ ba, đồng thời giảm thời gian và chi phí cho việc gia hạn các visa đã hết hạn.
Qui định này cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các công dân Việt Nam làm việc cho các công ty của Hoa Kỳ và thuỷ thủ Việt Nam trên các chuyến tàu cập cảng Mỹ.
Theo đại sứ quán Hoa Kỳ, việc gia tăng đi lại giữa hai quốc gia và mở rộng hạn visa cho các khách lữ hành hợp pháp là một dấu hiệu về mối quan hệ ngày càng trở nên sâu sắc giữa hai quốc gia.
Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục xem xét thêm các phương án để mở rộng thêm hạn visa cho các diện visa khác. |
2520_1308300842_-Ky-thuat-trinh-bay-_1802_529_s.jpg
Theo nguồn tin từ chính phủ Canada, Bộ Quốc Tịch và Nhập cư Canada (CIC) đang lên kế hoạch cho một số
Theo nguồn tin từ chính phủ Canada, Bộ Quốc Tịch và Nhập cư Canada (CIC) đang lên kế hoạch cho một số đối tượng ra nước ngoài vì mục đích công tác vào Canada nhanh, cho phép họ được cấp visa nhanh hơn du khách thông thường.
Thư ký phó bộ trưởng Claudette Deschenes đã nói chuyện cùng các thành viên trong ủy ban nhập cư của Quốc hội vào tuần trước: “Chúng ta nhận thấy rằng visa công tác đóng góp to lớn cho nền kinh tế Canada, vì vậy chúng ta nên xem xét quy trình riêng cho visa công tác, qua đó có thế vận dụng các mối liên kết chính giữa các công ty đang hoạt động và có uy tín cho kế hoạch, cho quy trình riêng của loại visa này.”
Theo kế hoạch, nhân viên của các công ty có trụ sở ở Canada có thể được cấp visa du lịch vào Canada trong vòng 1- 2 ngày. |
2517_1308300859_Nhung-dieu-can-biet-_1837_348_s.jpg
Theo ước tính của Bộ Công dân nhập cư Canada hôm nay, năm 2008 đất nước này đã đón nhận số lượng người đến đây cư trú theo diện tạm trú và thường trú nhân đạt đến mức kỉ lục chưa từng có.
Ottawa, ngày 20 tháng 2 năm 2009 – Theo ước tính của Bộ Công dân nhập cư Canada hôm nay, năm 2008 đất nước này đã đón nhận số lượng người đến đây cư trú theo diện tạm trú và thường trú nhân đạt đến mức kỉ lục chưa từng có.
Ông Jason Kenny, Bộ trưởng Bộ Công dân nhập cư và đa văn hóa đã tuyên bố: “Ngày nay, trong khi nhiều quốc gia khác đang đề cập đến việc chỉ cho phép ít người vào nhập cư, chúng tôi lại sẵn sàng đón nhận người vào Canada tạm trú với số lượng ngày càng tăng”.
Năm 2008, Canada cho phép 247,202 người vào nhập cư theo diện thường trú nhân, tăng 70,000 so với năm 2008, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với dự tính của chính phủ trong khoảng từ 240,000 đến 265,000 người. Hơn thế, có khoảng 193,061 lao động tay nghề nước ngoài và 79,459 du học sinh cũng đến đây làm việc và học tập làm cho số lượng người đến Canada tạm trú lên đến 519,722 người.
Số lượng lao động tay nghề từ nước ngoài vào Canada ngày một tăng cho thấy thị trường lao động này đang có nhu cầu rất lớn.Việc thuê lao động từ nước ngoài một phần do nhu cầu của người lao động và một phần do cầu của thị trường này.
Bộ trưởng Kenny cũng nói: “ Chính phủ Canada không hề làm theo lời khuyên nên từng bước giảm thiểu số lượng người nhập cư và trong thực tế chính phủ vẫn lên kế hoạch duy trì một số lượng người nhập cư nhất định cho năm 2009. Với cương vị là Bộ trưởng, tôi đặc biệt lo lắng về những lời lẽ thiển cận, có tính chất chia rẽ làm cho người nhập cư có thái độ phản kháng lại chính phủ Canada”. |
2514_1308300882_Mo--dia-Chat--Tai-Ng_3279_794_s.jpg
Một số ngành nghề của Úc, khi nộp đơn theo diện ‘tay nghề’ được tính 60 điểm cho ngành nghề đó như: kỹ sư, kế toán, kiến trúc sư….
Một số ngành nghề của Úc, khi nộp đơn theo diện ‘tay nghề’ được tính 60 điểm cho ngành nghề đó như: kỹ sư, kế toán, kiến trúc sư….Tuy nhiên, để xin được thẩm định tương đương 60 điểm không phải chuyện dễ dàng. Ví dụ ngành kế toán, yêu cầu chuẩn là những môn học ở đại học ngành tài chính kế toán phải có tối thiểu 9 môn trong 12 môn chuyên ngành của CPA; ngành quản lý đòi hỏi quản lý 600 nhân viên, 5 năm kinh nghiệm….ngành kỹ sư phần lớn yêu cầu 6 điểm ngoại ngữ IELTS tại thời điểm thời điểm nộp đơn; ngành bác sỹ yêu cầu phải có chỗ thực tập ở Úc dưới sự giám sát của một bác sỹ……
Trong trường hợp không thể đạt 60 điểm, không thể thẩm định kỹ năng thì không còn cách nào khác? Hướng duy nhất là chuyển sang VETASSESS, cơ quan thẩm định chung về bằng cấp tương đương của Úc và sẽ được 50 điểm, một số ngành chỉ được 40 điểm. Yêu cầu VETASSESS khá đơn giản, thông thường chỉ yêu cầu về bằng cấp, bảng điểm và sơ yếu lý lịch.
Trong một số trường hợp, khi chuyển sang VETASSESS thẩm định được 50 điểm, điểm tổng sẽ bị giảm xuống và có khả năng sẽ không đủ 120 điểm. Trong trường hợp này, người nộp đơn cần nâng ngoại ngữ lên 7.0 cho mỗi kỹ năng IELTS để nâng tổng số điểm ngoại ngữ lên 25 điểm thay vì 15 điểm (6 điểm cho mỗi kỹ năng). Đây là cách duy nhất để đi theo diện độc lập không cần bảo lãnh hoặc phải xin bảo lãnh của tỉnh để đi theo diện “Regional Sponsored” với điểm đủ là 100. Có nghĩa là người nộp đơn sẽ có 2 chọn lựa: một là sau khi thẩm định kỹ năng xong, đợi đến khi có 7.0/mỗi kỹ năng IELTS rồi mới nộp hồ sơ xin visa hoặc xin Sponsor của tỉnh để đi theo diện “Regional Sponsored”. Theo diện Regional Sponsored thì phải sinh sống ở tỉnh đó tối thiểu 2 năm rồi mới được định cư chính thức. Nếu đợi đến khi đạt được 7.0 IELTS mới nộp hồ sơ thì sẽ có nhiều rủi ro vì có khả năng các điều kiện nhập cư sẽ thay đổi hoặc sẽ bị trừ điểm vì giới hạn của độ tuổi ưu tiên. Xét cho cùng người có người thân đạt được rất nhiều thuận lợi vì chỉ cần 100 điểm mà vẫn được định cư theo diện độc lập, có thể sinh sống bất cứ nơi nào ở Úc.
|
2510_1308301005_Hoc-cach-lang-nghe_1775_158_s.jpg
Vì tình hình có chiều hướng kéo dài, nên chính phủ có thể điều chỉnh mức độ nhập cư theo điều kiện kinh tế.
Thứ Hai, ngày 16/03/2009
Chính phủ Rudd sẽ giảm tiếp nhận người nhập cư có tay nghề khoảng 14% trong giai đoạn 2008-2009 nhằm bảo vệ người bản địa khỏi sự cạnh tranh việc làm với người nhập cư trong khi vẫn đảm bảo cho nhà tuyển dụng tuyển được chuyên gia có tay nghề trong các lĩnh vực đang khan hiếm lao động.
Vì tình hình có chiều hướng kéo dài, nên chính phủ có thể điều chỉnh mức độ nhập cư theo điều kiện kinh tế, và tuần trước Nội các đã chấp thuận giảm bớt số người nhập cư có tay nghề vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang xấu đi.
Rõ ràng, tình hình kinh tế Úc đã thay đổi do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vì vậy chính phủ phải thận trong chính sách nhập cư.
Các thay đổi trong chương trình là:
· Việc tiếp nhận người nhập cư có tay nghề sẽ giảm khoảng 14% trong giai đoạn 2008-2009, từ 133.5000 người xuống còn 115.000 người.
· Loại khỏi danh sách những ngành nghề cần gấp như thợ hồ, thợ sửa ống nước, thợ mộc, và thợ điện. Dự kiến chỉ còn để lại các ngành y tế, kỹ sư, và công nghệ thông tin.
Những thay đổi cùng với các biện pháp giải quyết đã đưa đến kết quả chỉ những người được nhà tuyển dụng bảo lãnh hoặc có ngành nghề nằm trong danh sách các ngành nghề cần gấp mới được cấp visa theo chương trình nhập cư người có tay nghề. Phân nửa visa thường trú được cấp cho những người nộp hồ sơ đang sinh sống và làm việc tại Úc.
Danh sách ngành nghề cần gấp vẫn được duy trì dựa trên việc xem xét lại định kỳ và chính phủ sẽ loại bỏ một số ngành nghề nếu những ngành đó được người lao động bản địa đáp ứng.
Thông báo từ Phòng Thương mại và Công nghiệp: Úc vẫn cần duy trì chương trình nhập cư có tay nghề vì nhiều lĩnh vực đòi hỏi tay nghề cao tại nước này vẫn đang cần lao động và không có sự cạnh tranh với lao động địa phương.
Vẫn còn khan hiếm lao động trong một số lĩnh vực, như là chăm sóc sức khỏe, và các giải pháp này cho phép doanh nghiệp tiếp tục tuyển chuyên gia có tay nghề cao vào các lĩnh vực đó trong khi không làm ảnh hưởng đến nguồn việc làm cho người bản địa cũng như mức lương và các điều kiện dành cho lao động Úc.
Chính phủ Rudd vẫn cam kết phát triển mạnh chương trình nhập cư đồng thời kiểm soát số lượng người nhập cư vào đất nước này và có kế hoạch ổn định chương trình nhập cư trong giai đoạn 2009-2010 để phù hợp với tình hình kinh tế.
Chương trình nhập cư theo diện người có tay nghề đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế và được phối hợp với Dự án Việc làm và Xây dựng đất nước của chính phủ nhằm đưa nước Úc thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. |
2507_1308301019_Tu-van-huong-nghiep-_146_438_s.jpg
Mục tiêu của quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên mới áp dụng cho những hồ sơ có sự bảo lãnh của nhà tuyển dụng, sự bảo lãnh của chính phủ bang, hạt, có kỹ năng kinh doanh và những ai có ngành nghề nằm trong CSL.
Trả lời câu hỏi Những thay đổi đối với chương trình nhập cư theo diện có tay nghề Úc
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHƯƠNG TRÌNH NHẬP CƯ 2008- 2009
Chương trình "Skilled Migration"
Câu 1: Những thay đổi nào đã được công bố đối với chương trình “Skilled Migration”?
Những thay đổi đã được Bộ trưởng Quốc tịch và Nhập cư công bố đối với chương trình “Skilled Migration”:
· Hướng dẫn của Bộ trưởng về quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên trong Phần 499 mới.
· Công bố danh sách kỹ năng cần gầp (CSL)
· Tăng thêm quyền hạn cho chính phủ bang, hạt để đáp ứng nhu cầu khan hiếm lao động có kỹ năng cần gấp.
Câu 2: Ai sẽ được nhận quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên?
Mục tiêu của quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên mới áp dụng cho những hồ sơ có sự bảo lãnh của nhà tuyển dụng, sự bảo lãnh của chính phủ bang, hạt, có kỹ năng kinh doanh và những ai có ngành nghề nằm trong CSL.
Câu 3: Những thay đổi này sẽ được áp dụng khi nào?
Những thay đổi này sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2009.
Câu 4: Tại sao những thay đổi này được áp dụng?
Ngân sách năm 2008, diện kỹ năng của chương trình nhập cư 2008-2009 đã tăng đáng kể lên 133,500 nằm trong chiến lược ngăn chặn nguy cơ lạm phát gia tăng vì áp lực tăng lương của chính phủ.Tuy nhiên, từ nguồn ngân sách năm 2008, có một sự thay đổi lớn trong nền kinh tế Úc do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây.
Cuộc khủng hoảng này đã làm suy yếu nền kinh tế Úc, được phản ánh qua các dự báo kinh tế giữa năm và triển vọng tài chính trong tương lai (MYEFO). Để xoay chuyển những thay đổi trong bối cảnh kinh tế hiện nay, Bộ trưởng đã công bố một giải pháp chiến lược hơn cho chương trình nhập cư trong năm 2008- 2009. Công bố này cho biết quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên dành cho các loại visa có nhà tuyển dụng, có chính phủ bang, hạt bảo lãnh và có kỹ năng kinh doanh, và thông báo các ngành nghề trong CSL. Những ai đang nộp hồ sơ xin nhập cư vào Úc có kỹ năng hoặc chuyên môn nằm một trong những ngành nghề thuộc danh sách CSL sẽ được xử lý ưu tiên hơn đối với những người không có điều kiện này. Chương trình sẽ nhận tất cả hồ sơ được nộp tại thời điểm có thông báo cũng như các hồ sơ về sau.
Câu 5: Những thay đổi này là tạm thời hay vĩnh viễn?
Chương trình nhập cư theo diện có kỹ năng vẫn tiếp tục xét lại và đánh giá các diện liên quan và các tác động vào nhu cầu xã hội và kinh tế của Úc. Chương trình sẽ được sửa đổi khi những nhu cầu này thay đổi.
Câu 6: Chương trình sẽ đóng cửa, hoặc chính thức hoặc không chính thức?
Nếu quy trình xử lý các loại visa ưu tiên không làm ảnh hưởng đến toàn bộ nguồn quy trình xử lý hồ sơ của Bộ Di trú, sẽ có một số công cụ quản lý sẵn có dựa trên luật pháp để Bộ trưởng kiểm soát việc nhận hồ sơ theo diện có kỹ năng, nếu cần thiết, sẽ đình chỉ quy trình xử lý hồ sơ hoặc ngưng số visa sẽ được cấp.
Câu 7: Có bất cứ sự khác biệt nào trong quy trình xử lý hồ sơ trong nước và nước ngoài?
Không, quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên mới sẽ có hiệu lực như nhau đối với tất cả hồ sơ trong nước cũng như nước ngoài.
Câu 8: Những ngành nghề nào sẽ bị ảnh hưởng?
Những ngành nghề không nằm trong danh sách CSL sẽ không được nhận quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên trừ khi người nộp hồ sơ được nhà tuyển dụng bảo lãnh hoặc chính phủ bang, hạt chỉ định.
Bảo lãnh theo bang
Câu 9: Các bang, hạt có thể bảo lãnh cho những ai?
Các bang, hạt có thể bảo lãnh những người có ngành nghề nằm trong danh sách ngành nghề cần gấp của bang và họ cũng có thể bảo lãnh lên tới 500 người/năm đối với những người không có ngành nghề nằm trong danh sách của bang. Những người nộp hồ sơ nên liên hệ trực tiếp với bang, hạt mà họ mong muốn sinh sống để xin bảo lãnh.
Câu 10: Các bang, hạt có thể nhận bao nhiêu người dựa trên danh sách ngành nghề cần gấp của bang, hạt?
Số lượng người nhập cư tiềm năng mà mỗi bang, hạt có thể bảo lãnh dựa trên danh sách ngành nghề cần gấp của bang là không giới hạn, trừ khi hạn ngạch của toàn bộ chương trình nhập cư theo diện kỹ năng sắp đạt đến mục tiêu dựa trên những ngành nghề nằm trong danh sách các ngành nghề cần kỹ năng (SOL), chứ không dựa vào danh sách ngành nghề cần gấp của bang. Sự chỉ định ngoài danh sách này là sự cộng thêm vào danh sách ngành nghề cần gấp.
Câu 11: Danh sách ngành nghề cần gấp của bang là như thế nào?
Mỗi bang phải tuân thủ theo danh sách ngành nghề cần gấp của riêng bang đó. Mỗi bang, hạt có thể bảo lãnh người nhập cư tiềm năng có kỹ năng ngành nghề nằm trong danh sách ngành nghề cần gấp đối với visa GSM. Người nộp hồ sơ được chính phủ bang, hạt bảo lãnh được cộng thêm 10 điểm dựa trên thang điểm đánh giá của chương trình GSM.
Câu 12: Có bất cứ sự hạn chế nào về các loại kỹ năng mà các bang, hạt có thể chấp thuận hồ sơ dựa trên danh sách các ngành nghề cần gấp của bang?
Danh sách ngành nghề cần gấp của bang xác nhận những ngành nghề được xem là khan hiếm trong quyền hạn của bang. Giới hạn duy nhất là những ngành nghề nằm trong danh sách ngành nghề cần gấp cũng phải được liệt kê trong GSM SOL.
Câu 13: Các bang, hạt có thể chấp thuận cho những người có kỹ năng không nằm trong danh sách CSL?
Có, các bang, hạt có thể bảo lãnh cho những người nộp hồ sơ chỉ định ngành nghề nằm trong danh sách SOL nhưng không nằm trong danh sách CSL. Họ có thể sử dụng quyền chỉ định 500 người nằm ngoài danh sách để bảo lãnh những người nộp hồ sơ khác.
Câu 14: Chuyện gì đang xảy ra cho danh sách ngành nghề nhập cư đang có nhu cầu (MODL)?
Không có sự thay đổi nào đối với số điểm dành cho MODL. MODL sẽ được xem xét lại khi cần thiết để quyết định bất cứ sự thay đổi nào được yêu cầu để duy trì các mục tiêu của chương trình nhập cư cần kỹ năng. Theo hướng dẫn trong Phần 499, những người nộp hồ sơ xin nhập cư theo diện GSM chỉ định ngành nghề nằm trong MODL sẽ nhận được quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên sau khi những người này chỉ định một ngành nghề thuộc CSL và được chính phủ bang, hạt bảo lãnh hoặc chỉ định.
Câu 15: Việc xem xét lại MODL sẽ được thực hiện khi nào?
Việc xem xét lại MODL dự kiến sẽ được thực hiện vào đầu năm 2009.
Câu 16: Các loại visa nào bị ảnh hưởng bởi công bố này?
Việc công bố CSL và những thay đổi đối với sự ưu tiên xử lý hồ sơ sẽ ảnh hưởng đến hầu hết những hồ sơ xin theo loại GSM, gồm những hồ sơ đã nộp sau ngày 01/01/2009 và những hồ sơ đã nộp nhưng chưa được cấp visa. Những người nộp hồ sơ xin visa 485 và 887 sẽ không bị ảnh hưởng bởi thay đổi này.
Câu 17: Có bao nhiêu visa được cấp trong năm 2007-2008 đối với những kỹ năng mà hiện nay có trong danh sách CSL?
Trong suốt chương trình 2007-2008, có 23.424 visa được cấp cho tất cả các loại có ngành nghề hiện nay nằm trong danh sách CSL.
Câu 18: Khách hàng tìm hiểu thông tin về các trường hợp cụ thể ở đâu?
Trong trường hợp đầu tiên, khách hàng nên tìm hiểu thông tin trên trang web của cơ quan di trú. Trang web này sẽ cung cấp các thông tin cơ bản đáng tin cậy về những thay đổi và các thông tin liên quan.
Những câu hỏi nào của khách hàng không được giải đáp bởi các thông tin có trên trang web này, có thể liên hệ với chương trình nhập cư theo diện “General Skilled Migration” qua số điện thoại?
· 1300 364 613 (ở Úc) theo giá cước địa phương
· +61 1300 364 613 (ở nước ngoài) (theo giá cước của nước sở tại)
Câu 19: Cơ cấu phản hồi những câu hỏi chung về thay đổi này là như thế nào?
Những câu hỏi chung về các thay đổi này sẽ được tham khảo trên thông tin sẵn có tại trang web của cơ quan Di trú. Đối với những thông tin cụ thể hơn, khách hàng có thể liên hệ với chương trình nhập cư theo diện “General Skilled Migration” qua số điện thoại:
· 1300 364 613 (ở Úc) theo giá cước địa phương
· +61 1300 364 613 (ở nước ngoài) (theo giá cước của nước sở tại)
Câu 20: Có những thay đổi tương tự đã có trước đó không?
Năm 1997, Bộ Di trú đã đưa vào quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên dành cho chương trình nhập cư theo diện bảo lãnh vợ/chồng. Trong trường hợp này, những người nộp hồ sơ được công dân Úc bảo lãnh cùng với con cái được nhận sự ưu tiên.
MODL được cập nhật định kỳ, dựa trên nghiên cứu thị trường lao động DEEWR, để đáp ứng ngành nghề cần gấp thay đổi ở Úc.
Câu 21: Quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên hiện giờ có kế hoạch như thế nào?
Mục tiêu của quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên mới áp dụng cho các hồ sơ xin thường trú theo thứ tự sau:
· Có sự bảo lãnh của nhà tuyển dụng
· Có sự bảo lãnh của chính phủ bang/hạt
· Có ngành nghề nằm trong danh sách CSL
· Có ngành nghề nằm trong danh sách MODL
· Sau cùng là tất cả các loại hồ sơ khác
Tiêu chí của quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên mới dành cho các hồ sơ xin visa tạm theo thứ tự sau:
· Có sự bảo lãnh của chính phủ bang/hạt
· Có sự bảo lãnh của họ hàng mà ngành nghề của người nộp hồ sơ có trong danh sách CSL
· Sau cùng là tất cả các loại hồ sơ khác
Câu 22: Chuyện gì xảy ra với những hồ sơ đang ở giai đoạn cuối của quy trình xử lý hồ sơ và bộ Di trú đã yêu cầu người nộp hồ sơ cung cấp giấy khám sức khỏe và lý lịch tư pháp?
Những hồ sơ đã sắp hoàn tất, sẽ được bộ Di trú hoàn thành, tùy thuộc vào giấy khám sức khỏe và lý lịch tư pháp.
Câu 23: Còn những hồ sơ không thuộc diện kỹ năng?
Những giải pháp này chỉ ảnh hưởng đến diện kỹ năng.
Visa du học
Câu 1: Những thay đổi này tác động đến du học sinh như thế nào?
Úc có truyền thống giáo dục và đào tạo tốt. Chúng tôi tiếp tục chào đón du học sinh, và đánh giá cao sự đóng góp của họ cho cộng đồng và môi trường học tập ở nơi họ đang sinh sống.
Không có thay đổi nào đối với chương trình du học. Con đường từ visa du học sang visa GSM cũng vẫn được duy trì. Tuy nhiên, hồ sơ xin visa du học và hồ sơ xin GSM là hai quy trình riêng biệt. Điều cần lưu ý là các loại visa du học nhắm vào chất lượng đầu ra. Nói cách khác GSM chủ yếu hướng tới nhu cầu thị trường của Úc.
Câu 2: Tôi là du học sinh, tôi có thể nộp hồ sơ xin thường trú nhân không?
Du học sinh đủ điều kiện xin thường trú trước khi những thay đổi này vẫn tiếp tục còn đủ điều kiện để xin thường trú nhân.
Du học sinh đã tốt nghiệp tại các trường Úc và đáp ứng được các yêu cầu cần thiết khác sẽ đủ điều kiện xin thường trú theo chương trình GSM. Những người có visa du học sẽ cần phải đáp ứng được điểm chuẩn và các yêu cầu đủ điều kiện cơ bản như là khả năng Anh ngữ và có bằng cấp, có bằng nghề với tối thiểu hai năm học tại Úc.
Trong khi các yêu cầu của GSM không thay đổi, Úc vẫn tiếp tục điều chỉnh và xét lại chương trình nhập cư nhằm đảm bảo đáp ứng được các nhu cầu và hoàn cảnh thay đổi. những người nộp hồ sơ xin thường trú triển vọng nên tiếp tục theo dõi những thay đổi trên trang web của Bộ Di trú.
Câu 3: Ngành nghề tôi đang theo học không nằm trong CSL, tôi có thể vẫn nộp hồ sơ xin visa thường trú?
Những thay đổi này không ảnh hưởng đến các yêu cầu về hồ sơ xin nhập cư theo chương trình GSM. Số điểm chuẩn và các yêu cầu của GSM không thay đổi. Du học sinh đang theo học ngành có 50-60 điểm trong SOL sẽ đủ điều kiện nộp hồ sơ xin GSM. Du học sinh có 60 điểm cho yếu tố ngành nghề cũng sẽ đủ điều kiện để được cộng thêm điểm dựa trên số điểm chuẩn nếu ngành nghề đó được liệt kê trong MODL. SOL và MODL không thay đổi.
Những người nộp hồ sơ có ngành nghề đủ điều kiện không nằm trong CSL vẫn có thể nộp hồ sơ xin GSM. Tuy nhiên, hồ sơ visa của họ không được xử lý nhanh. Những người chỉ định ngành nghề nằm trong CSL sẽ được ưu tiên xử lý.
Câu 4: Tôi có thể nộp hồ sơ xin các loại visa khác các loại visa kỹ năng không?
Du học sinh có visa du học có thể tiếp tục nộp hồ sơ xin visa tạm trú hoặc thường trú miễn là họ đáp ứng được các tiêu chuẩn đủ điều kiện cần thiết.
Câu 5: Ngành tôi đang theo học không nằm trong CSL- Tôi có thể đăng ký học ngành khác?
Du học sinh có ý muốn thay đổi khóa học nên thảo luận trước với nơi đang theo học để biết quy trình xin chuyển đổi. Những du học sinh muốn đổi sang ngành khác có thể cần phải nộp hồ sơ xin visa du học theo loại phù hợp với ngành đó và nên liên hệ với Bộ Quốc tịch và Nhập cư (DIAC).
Câu 6: Tôi là hiệu trưởng trường có du học sinh đăng ký ngành nghề không nằm trong CSL và những du học sinh này đang muốn rút học bạ. Chính phủ có kế hoạch đền bù cho tôi không?
Không. Chính phủ không đưa ra bất cứ thay đổi nào đối với chính sách visa du học và giáo dục quốc tế. Không có lý do gì nhà trường không thể tiếp tục cung cấp các khóa học tương tự. Những ngành nghề đủ điều kiện đối với GSM không thay đổi. Những thay đổi chỉ ảnh hưởng đến những du học sinh nộp hồ sơ xin GSM khi tốt nghiệp. Những thay đổi này chỉ có nghĩa là quy trình xử lý visa nhanh hơn cho những người nộp hồ sơ có sự sắp xếp công việc trước “job offer” hoặc người được bảo lãnh bởi chính phủ bang, hạt hoặc có ngành nghề trong CSL.
Chính phủ thay đổi các yêu cầu xin visa GSM để phù hợp với điều kiện kinh tế và nhu cầu thị trường lao động. Như vậy, chính phủ không bảo đảm cho những khóa học do các nhà trường cung cấp thích hợp với du học sinh nộp hồ sơ xin kết quả thường trú sẽ tiếp tục hỗ trợ họ đạt được mục tiêu này.
Câu 7: Còn những thay đổi nào áp dụng cho chương trình du học sinh không?
Tại thời điểm này, không có thay đổi nào được đề xuất cho chương trình visa du học.
Nộp hồ sơ xin visa du học và hồ sơ xin GSM là hai quy trình riêng biệt. Các yêu cầu của GSM có thể được sửa đổi trong tương lai để phù hợp với bối cảnh kinh tế.
Chính phủ đang tập trung vào việc thay đổi kết quả của chương trình nhập cư nhằm hướng đến một mô hình công nghiệp hơn qua đó các loại visa được nhà tuyển dụng bảo lãnh trở thành hướng đi có ý nghĩa đối với thường trú nhân. Những thay đổi khác cùng với mục tiêu này sẽ được thực hiện trong tương lai.
Visa 457- Visa doanh nhân (dài hạn)
Câu 1: Những thay đổi này có ảnh hưởng đến hồ sơ xin visa 457 của tôi không?
Không.
Câu 2: Tôi có thể nộp hồ sơ xin GSM trong khi có visa 457 không?
Có, người nộp hồ sơ có thể xin visa GSM ở ngoài nước Úc khi có visa 457 miễn là đáp ứng được các yêu cầu đủ điều kiện. Tuy nhiên, khi đây là loại visa xin ngoài nước Úc, người nộp hồ sơ phải ở ngoài nước Úc tại thời điểm cấp visa và người nộp hồ sơ sẽ không đủ điều kiện xin visa bắc cầu.
|
2505_1308301036_Chuong-trinh-dao-tao_473_816_s.jpg
Việc tăng MSL dành cho dự án ENS dựa trên công bố gần đầy của Bộ trưởng Quốc tịch và Nhập cư- Senator Chris Evans- tăng tương đương với MSL của chương trình visa “subclass 45”.
Tăng lương tối thiểu cho người lao động có trình độ/kỹ năng Úc
Lương tối thiểu (viết tắt MSL) dành cho các ngành nghề thích hợp với dự án “Employer Nomination” (viết tắt ENS) sẽ tăng 3,8 % kể từ ngày 01/08.
Việc tăng MSL dành cho dự án ENS dựa trên công bố gần đầy của Bộ trưởng Quốc tịch và Nhập cư- Senator Chris Evans- tăng tương đương với MSL của chương trình visa “subclass 45”.
ENS là con đường chung xin thường trú nhân dành cho người lao động có trình độ /kỹ năng đang lao động ở Úc bằng visa tạm, như visa 457.
Thay đổi MSL sẽ đảm bảo cho chương trình phù hợp hơn với chương trình 457 và giúp duy trì sự hoàn chỉnh của chương trình nhập cư theo diện “skilled” của Úc.
MSL chuẩn sẽ tăng lên 43.440 đô, trong khi MSL dành cho các chuyên gia ICT sẽ tăng lên 59.477 đô.
Việc tăng lương sẽ chỉ áp dụng cho các vị trí đã được chỉ định theo dự án ENS kể từ ngày 01/08.
Sự tồn tại của visa ENS, cũng như chỉ định nhà tuyển dụng cho các vị trí đã được nộp trước ngày 01/08, sẽ không bị ảnh hưởng bởi việc tăng MSL. |
2503_1308301365__1888_310_s.jpeg
Cuối năm 2008, Tổng thống Bush đã ký vào luật: Đạo luật Bảo vệ nạn nhân của tệ nạn buôn người William Wilberforce. Luật này dùng để bảo vệ lao động nhập cư nước ngoài đến Mỹ bị lừa đảo.
Cuối năm 2008, Tổng thống Bush đã ký vào luật: Đạo luật Bảo vệ nạn nhân của tệ nạn buôn người William Wilberforce. Luật này dùng để bảo vệ lao động nhập cư nước ngoài đến Mỹ bị lừa đảo
Trong suốt lịch sử luật nhập cư Mỹ, nhà sử dụng lao động và nhà tuyển dụng Mỹ đã lợi dụng lao động nước ngoài bởi vì hình phạt dành cho những hành động như vậy từ chính phủ Mỹ không quá nghiêm khắc. Các nhà sử dụng lao động và nhà tuyển dụng hứa với các lao động nước ngoài là sẽ có thẻ thường trú nhân Mỹ (Green card) nếu họ qua Mỹ làm việc cho họ. Kết quả là người lao động nước ngoài phải bỏ ra 10,000 đô la để có thẻ tạm trú và làm việc, sinh sống trong điều kiện thiếu thốn.
Tất cả những điều đó sẽ thay đổi cùng với việc đưa ra Đạo luật Bảo vệ nạn nhân của tệ nạn buôn người, đã được thông qua cả Hạ nghị viện và Thượng nghị viện vào ngày 10/12/2008, và được Tổng thống Bush ký vào luật ngày 23/12/2008. Đạo luật này bây giờ cho phép khởi tố nhà tuyển dụng lao động vì tội lừa đảo nếu họ không cung cấp cho lao động nước ngoài mức lương hoặc điều kiện làm việc như đã hứa. Trong quá khứ, khởi tố tội lừa đảo là rất khó khăn bởi vì cần có bằng chứng vi phạm hoặc lách luật rõ ràng. Hiện nay, nhà tuyển dụng lao động thue lao động nước ngoài có thể bị khởi tố vì tội lừa đảo mà không cần chứng cứ vi phạm hoặc lách luật cụ thể.
Đạo luật này đã được bên nguyên áp dụng. Gần đây, một vụ tố tụng đã được thụ lý, kiện Pioneer Hi-Bred International, một công ty nông nghiệp có trụ sở tại Iowa, viện lẽ rằng Pioneer không cung cấp cho 51 lao động đầy đủ các điều kiện làm việc và sinh sống tại nông trại Iowa. Ngoài ra, họ chỉ nhận được một khoản lương nhỏ trong tổng mức lương của họ. |
2501_1308301386_Nhung-ke-xuat-chung_1870_857_s.jpg
Chính phủ Rudd sẽ giảm tiếp nhận người nhập cư có tay nghề khoảng 14% trong giai đoạn 2008-2009
Chính phủ Rudd sẽ giảm tiếp nhận người nhập cư có tay nghề khoảng 14% trong giai đoạn 2008-2009 nhằm bảo vệ người bản địa khỏi sự cạnh tranh việc làm với người nhập cư trong khi vẫn đảm bảo cho nhà tuyển dụng tuyển được chuyên gia có tay nghề trong các lĩnh vực đang khan hiếm lao động.
Vì tình hình có chiều hướng kéo dài, nên chính phủ có thể điều chỉnh mức độ nhập cư theo điều kiện kinh tế, và tuần trước Nội các đã chấp thuận giảm bớt số người nhập cư có tay nghề vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang xấu đi.
Rõ ràng, tình hình kinh tế Úc đã thay đổi do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vì vậy chính phủ phải thận trong chính sách nhập cư.
Các thay đổi trong chương trình là:
· Việc tiếp nhận người nhập cư có tay nghề sẽ giảm khoảng 14% trong giai đoạn 2008-2009, từ 133.5000 người xuống còn 115.000 người.
· Loại khỏi danh sách những ngành nghề cần gấp như thợ hồ, thợ sửa ống nước, thợ mộc, và thợ điện. Dự kiến chỉ còn để lại các ngành y tế, kỹ sư, và công nghệ thông tin.
Những thay đổi cùng với các biện pháp giải quyết đã đưa đến kết quả chỉ những người được nhà tuyển dụng bảo lãnh hoặc có ngành nghề nằm trong danh sách các ngành nghề cần gấp mới được cấp visa theo chương trình nhập cư người có tay nghề. Phân nửa visa thường trú được cấp cho những người nộp hồ sơ đang sinh sống và làm việc tại Úc.
Danh sách ngành nghề cần gấp vẫn được duy trì dựa trên việc xem xét lại định kỳ và chính phủ sẽ loại bỏ một số ngành nghề nếu những ngành đó được người lao động bản địa đáp ứng.
Thông báo từ Phòng Thương mại và Công nghiệp: Úc vẫn cần duy trì chương trình nhập cư có tay nghề vì nhiều lĩnh vực đòi hỏi tay nghề cao tại nước này vẫn đang cần lao động và không có sự cạnh tranh với lao động địa phương.
Vẫn còn khan hiếm lao động trong một số lĩnh vực, như là chăm sóc sức khỏe, và các giải pháp này cho phép doanh nghiệp tiếp tục tuyển chuyên gia có tay nghề cao vào các lĩnh vực đó trong khi không làm ảnh hưởng đến nguồn việc làm cho người bản địa cũng như mức lương và các điều kiện dành cho lao động Úc.
Chính phủ Rudd vẫn cam kết phát triển mạnh chương trình nhập cư đồng thời kiểm soát số lượng người nhập cư vào đất nước này và có kế hoạch ổn định chương trình nhập cư trong giai đoạn 2009-2010 để phù hợp với tình hình kinh tế.
Chương trình nhập cư theo diện người có tay nghề đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế và được phối hợp với Dự án Việc làm và Xây dựng đất nước của chính phủ nhằm đưa nước Úc thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. |
2497_1308301400_-Mot-so-quy-tac-soan_1801_415_s.jpg
Báo cáo thường niên của Bộ Di trú trong năm 2007-2008 chỉ ra rằng lượng người nhập cư vào Úc theo diện thường trú và tạm trú tiếp tục tăng trong suốt giai đoạn 2007-2008.
Những con số này cho biết giai đoạn 2007-2008, Bộ Di trú đã cấp 108.542 visa cho chương trình nhập cư theo diện “skill stream” (97.940 visa trong giai đoạn 2006-2007 ). Hiện tại visa tạm chiếm 24% trong diện “skill stream”, trên cơ sở đó Chính phủ Úc đang hợp tác với chính quyền địa phương để khuyến khích nhà tuyển dụng Úc và người nộp hồ sơ nước ngoài sử dụng những chương trình này để đáp ứng nhu cầu khan hiếm lao động ở những khu vực chủ chốt.
Về chương trình nhập cư “General Skilled Migration” (GSM), quốc gia có tỉ lệ nhập cư vào Úc cao nhất là Ấn Độ, chiếm 22%, theo sau là Anh chiếm 18%, và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa chiếm 13%. Các quốc gia khác có tỉ lệ nhập cư tương đối lớn là Malaysia, Hàn Quốc, Nam Phi, Sri Lanka, Philippines, Bangladesh, và Indonesia.
Chương trình nhập cư theo diện có nhà tuyển dụng bảo lãnh ( Employer- Sponsored) gồm các chương trình “Employer Nomination Scheme (ENS)”, “Regional Sponsored Migration Scheme (RSMS)”, và “Labour Agreement (LA)”. Trong năm 2007- 2008, Bộ Di trú đã cấp 23.760 visa, tăng 42,3% so với giai đoạn 2006- 2007. Báo cáo này cho biết, ngành nghề đang được chương trình “ Employer sponsored” săn đón là Y tá, từ nguồn chính Ấn Độ, Nam Phi, và Anh. |
2496_1308301419_-Moi-truong-hoc-tap_1786_407_s.jpg
Visa theo loại được nhà tuyển dụng chỉ định ngành nghề sẽ tiếp tục được giải quyết dựa trên nhu cầu. Người nộp hồ sơ thành công có thể làm ngay công việc cần kỹ năng và đóng góp tích cực cho nền kinh tế Úc.
Những thay đổi đối với chương trình nhập cư theo diện có tay nghề Úc
Những thay đổi đối với chương trình nhập cư theo diện có tay nghề Úc Bộ trưởng Quốc tịch và Nhập cư, Senator Chris Evans, đã công bố một số biện pháp nhằm đảm bảo cho chương trình nhập cư có kỹ năng năm 2008- 2009 hỗ trợ nhiều hơn cho nhu cầu thay đổi nền kinh tế. Những thay đổi này sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2009.
Chiến lược bao gồm:
Visa theo loại được nhà tuyển dụng chỉ định ngành nghề sẽ tiếp tục được giải quyết dựa trên nhu cầu. Người nộp hồ sơ thành công có thể làm ngay công việc cần kỹ năng và đóng góp tích cực cho nền kinh tế Úc.
Hồ sơ nhận theo diện kỹ năng căn cứ trên số điểm được đánh giá theo các loại nhập cư sẽ được thay đổi theo chiều hướng có lợi cho những người có kỹ năng ngành nghề được chính phủ bang và hạt ưu tiên và tại cùng thời điểm này sẽ giảm lượng hồ sơ nhận vào.
Sự chỉ đạo của bộ trưởng dựa trên Đạo luật Nhập cư nhằm bảo đảm cho người nộp hồ sơ có kỹ năng trong các ngành nghề được liệt kê trong danh sách những ngành nghề cần gấp đang có nhu cầu cao sẽ được ưu tiên xử lý căn cứ trên số điểm được đánh giá theo các loại nhập cư.
Sự kết hợp của các phương pháp này là một sự hưởng ứng làm cân bằng các thay đổi trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay và các tác động của nó vào Úc. Những thay đổi trong chiến lược này không làm thu hẹp hệ thống nhập cư của chúng tôi vì nó là một công cụ hỗ trợ cho sự phát triển xã hội và kinh tế trong tương lai của Úc.
Lợi ích
Những biện pháp này cho phép người nhập cư có kỹ năng: được nhà tuyển dụng bảo lãnh cho một công việc cụ thể ở Úc; được chính phủ bang hoặc hạt bảo lãnh; hoặc có những kỹ năng cần gấp, sẽ được ưu tiên trong khoảng thời gian còn lại của năm 2008-2009. Các thay đổi này sẽ tạo thuận lợi cho:
Quy trình xử lý hồ sơ nhập cư thường trú nhân theo loại được nhà tuyển dụng bảo lãnh sẽ nhanh hơn, qua đó người nhập cư có kỹ năng được bảo lãnh làm những công việc đang thiếu hụt ở địa phương.
Cho chính phủ bang và hạt thêm quyền hạn để đáp ứng nhu cầu khan hiếm lao động trong các ngành nghề cần gấp.
Ưu tiên hơn, thông qua sự chỉ đạo của bộ trưởng căn cứ vào điều 499 của Đạo luật Nhập cư, cho những người nộp hồ sơ có ngành nghề nằm trong danh sách những ngành nghề cần gấp nhưng không có sự bảo lãnh của nhà tuyển dụng hoặc chính phủ.
Chính phủ sẽ duy trì mục tiêu tối đa của chương trình là 133. 500 vị trí trong năm 2008- 2009 .Tùy thuộc vào nhu cầu của nhà tuyển dụng con số cuối cùng có thể thấp hơn giới hạn của chương trình.
Soạn danh sách ngành nghề cần gấp (CSL)
CSL sẽ chỉ áp dụng cho những người đang xin nhập cư theo chương trình nhập cư có kỹ năng không được nhà tuyển dụng bảo lãnh hoặc không được chính phủ bang hoặc hạt chỉ định.
Những thông tin chính về CSL:
Danh sách được triển khai trong sự cố vấn của chính phủ bang/ hạt và Bộ Giáo dục, Lao động và Quan hệ nơi làm việc (DEEWR). Nó tập trung vào những ngành xây dựng, chuyên gia công nghệ thông tin, chuyên gia y tế và kỹ thuật .
CSL là danh sách ngành nghề hẹp được triển khai trong sự cố vấn của chính phủ bang và hạt .
Hồ sơ của những người chỉ định ngành kế toán sẽ chỉ được hưởng quy trình xử lý hồ sơ ưu tiên chỉ khi họ hoàn tất chương trình thực tập nghề theo mục tiêu của năm hòa nhập (Professional Year)- kế toán (SMIPA); và/ hoặc họ chứng minh được khả năng Anh ngữ lưu loát dựa trên Hệ thống đánh giá Anh ngữ Quốc tế (7 IELTS) trong 2 năm qua.
Dựa trên danh sách sắp xếp công việc này, du học sinh đã tốt nghiệp ở nước ngoài đáp ứng được các yêu cầu này đối với visa nhập cư theo diện kỹ năng tạm trú hoặc thường trú sẽ vẫn có thể nộp hồ sơ trong khi đang ở nước sở tại.
Danh sách này sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục xem xét lại trong sự cố vấn của chính phủ bang hoặc hạt, các hiệp hội ngành nghề nhằm đảm bảo danh sách luôn hỗ trợ cho nhu cầu ngành nghề.
Thêm quyền hạn nhằm đáp ứng sự thiếu hụt nguồn lao động cần có kỹ năng/tay nghề
Sự thay đổi này sẽ cho chính phủ bang và hạt thêm quyền hạn để đáp ứng sự thiếu hụt nguồn lao động cần có kỹ năng/tay nghề.
Dựa trên danh sách sắp xếp ngành nghề hiện tại, chính phủ bang và hạt có thể bảo lãnh một loạt các ngành nghề bị hạn chế, tại những khu vực họ cho rằng đang khan hiếm lao động cần kỹ năng trong quyền hạn của họ.
Quyền hạn được trao cùng với việc mở rộng danh sách ngành nghề sẽ được thường xuyên xem xét lại .
Ngoài ra, chính phủ bang và hạt được tăng thêm 500 vị trí trong năm 2008- 2009 để bảo lãnh người nhập cư có kỹ năng trong các ngành nghề không có trong danh sách những ngành nghề đủ điều kiện hiện tại. |
|