0_1308709136_ceo.jpg
| CEO Rex Tillerson của Exxon Mobil từng là một người trông giữ trẻ. Còn vị chủ tịch của ngân hàng J.P Morgan Chase đã có thời là đầu bếp nấu món khoai tây chiên. Trên thực tế, có rất nhiều những vị CEO giàu có và đầy quyền lực đã kiếm được những đồng tiền lương đầu tiên bằng những công việc như cắt cỏ, chuyển báo… Dưới đây là 10 vị CEO với những công việc khởi đầu đầy thú vị. |
|
1. Doug McMillon - Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Wal-Mart
Doug McMillon hiện là Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của chuỗi các cửa hàng Wal-Mart. Wal-Mart là nơi đầu tiên Doug McMillon làm việc. Ông đã đến làm tại kho hàng Arkansas của tập đoàn này khi mới 17 tuổi với mức lương 6 đôla một giờ.
Ngày nay, mặc dù đã ngồi trên vị trí cao nhất của tập đoàn, Doug McMillon vẫn cho rằng những kỹ năng và kiến thức học được từ công việc đầu tiên tại kho hàng Wal-Mart vẫn được sử dụng rất hiệu quả cho công việc ở vị trí chủ tịch đầy quyền lực của ông hiện tại.
Ông nói: “Những thành công trong công việc nhóm và sự chăm chỉ sẽ được đền đáp. Nếu bạn không biết tận dụng thời gian, không phấn đấu nỗ lực làm việc chăm chỉ trên cả mong đợi của những nhà lãnh đạo thì bạn sẽ không bao giờ có thể thăng tiến được".
2. Michael Dell, Chủ tịch Công ty công nghệ Dell
Dell là một công ty về công nghệ được thành lập vào năm 1984 tại Austin, bang Texas, tên của công ty này được đặt theo tên của người sáng lập và cũng là giám đốc điều hành Michael Dell. Trong năm 2011, tạp chí Forbes đã bình chọn ông là một trong số những người giàu có nhất thế giới với tổng giá trị tài sản ước tính lên tới 15 tỷ USD. Và công ty Dell của ông xếp trong top 500 của tạp chí Fortune.
Michael Dell bắt đầu làm công việc giặt là vào lúc 12 tuổi tại một nhà hàng của Trung Quốc với mức lương chỉ 2,3 đôla một giờ. Sau đó ông tiếp tục đến làm việc tại một nhà hàng Mexico. Ông chính thức rời bỏ công việc tại những nhà hàng và đến với công việc tại một cửa hàng bán tem và những đồng xu hiếm. Sau đó, ông đến với công việc bán báo qua điện thoại cho đến lúc 16 tuổi.
3. John Dasburg, Giám đốc điều hành hãng hàng không ASTAR Air Cargo
ASTAR Air Cargo là một hãng hàng không có mặt tại hơn 40 sân bay và cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa cho Bộ Quốc phòng Mỹ. Giám đốc điều hành của công ty này ông John Dasburg, một người có tài năng rất đặc biệt.
Ngay từ khi 10 tuổi, Dasburg chứng tỏ tài năng của mình khi quyết định kiếm những đồng tiền đầu tiên bằng công việc cắt cỏ thuê cho người hàng xóm. Tuy nhiên công việc thì quá nhiều, và ông nhận ra rằng ông không thể làm một mình. Ông đã giải quyết tình hình đó bằng cách chia sẻ bớt công việc cho những người bạn bè của mình và ăn phần trăm từ họ.
4. T.Boone Pickens, CEO BP Capital Mgmt
Theo tạp chí Forbes thì tài sản của Pickens lên tới 1,4 tỷ USD. Tuy nhiên khi ông làm công viêc đầu tiên của mình với nghề phát báo ở Holdenville, Oklahoma, ông chỉ kiếm được 28 cent một ngày. Đó là lúc Pickens 12 tuổi.
Công việc đó đã cho Pickens cảm giác tự do đầu tiên, ông nói: “Từ đó tôi không cần tiền của bố mẹ nữa, tôi muốn tự mình kiếm chúng.”
Ông nói rằng việc kiếm tiền từ những khách hàng không muốn trả tiền cho ông đã dạy cho ông một bài học quý báu: “Bạn phải kiên định nếu bạn muốn đạt được mục đích của mình. Bạn sẽ không biết được công việc hằng ngày sẽ dẫn bạn tới điều gì, chính vì vậy hãy đặt mọi tâm trí của mình vào mọi việc.”
5. Terry Lundgren, CEO của Tập đoàn Macy
Công việc đầu tiên của ông bắt đầu sau khi ông tốt nghiệp đại học, đó là làm ở cửa hàng Federated. Tuy nhiên, là một sinh viên mới tốt nghiệp, Lundgren lúc đó chưa chắc chắn những gì ông muốn cho cuộc sống. Ông từng có ý định học thú y nhưng sau một năm lại chuyển sang học kinh doanh.
Lundgren làm tại cửa hàng Federated vào năm 1975 và làm cho chi nhánh của công ty Bullocks Wilshine ở Los Angeles. Đến năm 35 tuổi, ông đã làm trưởng chi nhánh đó. Năm 2005, ông tham gia vào thương vụ sát nhập hai cửa hàng Federated và May, đến năm 2007 hai công ty hợp nhất lại thành tập đoàn Macy và trở thành một nhà bán lẻ lớn nhất thế giới hiện nay.
6. Clarence Otis, Jr., CEO của Chuỗi cửa hàng ăn Darden
Chuỗi cửa hàng ăn Darden ở bang Florida của Mỹ hoạt động như một cơ sở ăn uống giống Olive Garden và Red Lobster. Trong năm 2010, thời báo Orlando Sentinel xếp Clarence Otis vào 11 người quyền lực nhất miền trung Florida với lý do ông quản lý 1.800 cửa hàng ăn uống và 180.000 nhân công.
Khi Otis gia nhập công ty vào năm 1995 với chức danh thủ quỹ, ông đã có kinh nghiệm về kinh doanh dịch vụ ăn uống. Ở tuổi 17, Otis làm nhân viên phục vụ tại cửa hàng ăn uống ở sân bay Los Angeles và kiếm được 3,5 USD một giờ. Ông nói rằng việc phục vụ một lượng lớn người ở mọi đẳng cấp đã giúp ông có một thái độ và tư tưởng tích cực.
7. Jack Schuessler, CEO của Wendy International
Tập đoàn Wendy International là công ty mẹ của Wendy, chuỗi cửa hàng hamburger lớn thứ 3 thế giới. Jack Schuessler đã làm cho công ty 30 năm và từ năm 2000 đến 2006 ông đã trở thành CEO.
Công việc đầu tiên của Schuessler là công việc khuân vác tại nhà máy ST. Louis với mức lương 2,45 USD một giờ. Ông cho rằng tính lặp đi lặp lại của công việc làm ông thấy nhàm chán trong suốt 8 tiếng làm việc.
Dù không thích công việc đó lắm, ông vẫn khẳng định nó đã dạy ông một bài học rất quan trọng: “Nếu bạn không làm việc, bạn sẽ không bao giờ được trả công”.
8. Bill Watkins, CEO của Seagate Technology
Seagate Technology là nhà sản xuất ổ cứng lớn nhất thế giới. Bill Watkins gia nhập công ty vào năm 1996 sau đó thăng tiến đến vị trí chủ tịch kiêm giám đốc điều hành vào năm 2004, và giữ vị trí đó đến năm 2009 khi ông nghỉ hưu.
Watkins đã có một cuộc đời rất đặc biệt trước khi đến được vị trí cấp cao đó. Khi ông tốt nghiệp trung học năm 1971, Watkins tham gia quân ngũ và phục vụ trong căn cứ Missouri với vai trò là một người cứu thương. Sau khi giải ngũ, ông làm ca đêm tại một bệnh viện tâm thần với nhiệm vụ kiềm chế bệnh nhân.
Sau đó ông từ bọ mọi thứ và đến bang California nơi mà ông làm việc với Xdex, nhà sản xuất đĩa mềm tại thung lũng Silicon. Từ đó ông làm trong lĩnh vực công nghệ cao.
9. Michael Morris, CEO của Công ty điện American Electric Power
American Electric Power là một trong số những nhà sản xuất điện lớn nhất nước Mỹ. Công ty này là nguồn cung cấp điện năng chính cho 38 bang của Mỹ và một phần của miền đông Canada.
Morris bắt đầu đi làm từ hồi 11 tuổi cho công ty Ohio’s Toledo Blade với việc phát báo và kiếm được 5 USD một ngày. Ông tin rằng công việc đó đã giúp ông có được một phong cách công nghiệp. Ngày nay, ông khuyến khích những nhân viên có những phẩm chất tương tự.
10. Susan Story, CEO của công ty Gulf Power
Công ty Gulf Power là một công ty điện có trụ sở ở Florida. Phục vụ hơn 400.000 khách hàng trải dài từ tây bắc Alabama, Florida đến vịnh Mexico.
Susan Story chính là CEO và chủ tịch hội đồng quản trị của công ty Gulf Power, 17 tuổi bà đã làm cho tờ báo Sand Mountain Reporter, một tờ báo của Alabama với lượng phát hành 20,000 bản. Story đã làm công việc đó với mức lương chỉ 2,85 USD một giờ.
Công việc của bà bao gồm viết quảng cáo, thông báo. Bà nói rằng công việc cho phép bà nhìn ra những cơ hội bên cạnh những trách nhiệm trong công việc của mình.
|
|
|
0_1308709056_huyentt20116192729525_1.jpg
Kinh doanh không phải là chuyện dễ dàng, dù chỉ là kinh doanh nhỏ nhưng câu chuyện thành công của 6 cô cậu bé sau đây đã chứng minh rằng trẻ em không chỉ biết vui chơi và học tập.

Leanna Archer - Công ty: Leanna"s Inc. - Tuổi: 15 - Website: leannashair.com
Leanna quyết tâm kinh doanh các sản phẩm chăm sóc tóc từ năm... 11 tuổi. Ý tưởng kinh doanh đến với em khi mọi người đều khen tóc em đẹp và hỏi bí quyết. Em cũng chẳng có gì để mất và còn cả cuộc đời phía trước nên quyết định sẽ mạo hiểm kinh doanh.
Giờ đây ở tuổi 15, Leanna đã sở hữu một công ty chuyên sản xuất các sản phẩm chăm sóc tóc với 8 sản phẩm khác nhau từ dầu gội tới gel tạo kiểu tóc. Tất cả các sản phẩm được sản xuất theo công thức gia truyền có nguồn gốc hoàn toàn tự nhiên, không chứa bất kỳ chất hóa học nào.
Năm ngoái công ty của Leanna đã thu lợi nhuận hơn 100.000 đô la, dự tính tới cuối năm nay, lợi nhuận sẽ tăng gấp 3. Leanna cũng đang chuẩn bị để mở rộng mạng lưới phân phối các sản phẩm chăm sóc tóc ra toàn nước Mỹ. Lời khuyên của cô bé dành cho những ai đang có ý định kinh doanh là “Không có ai thành công mà chưa trải qua vài lần thất bại”.
Robert Nay - Công ty: Nay Games - Tuổi: 14 - Website: naygames.com
Khi Robert Nay mới 14 tuổi, trò chơi Bubble Ball do cậu sáng tạo đã thu hút hơn 2 triệu lượt tải về. Các trò chơi trên điện thoại thông thường chỉ thu hút được vài trăm lượt tải. Vào tháng 1, Bubble Ball đã vượt qua cả Angry Birds để trở thành trò chơi được nhiều người tải về nhất trên Apple App Store. Robert kể: “Bạn bè khuyên em nên nghĩ ra một ứng dụng nào đó cho iPhone. Em thấy chuyện này cũng hay nên đã mày mò viết thử trò chơi này. Em tự nghĩ ra trò này, kết hợp thêm một số trò chơi khác mà em thích và ý kiến của mọi người”.
Robert không hề biết gì về lập trình nên cậu phải dành thời gian đến thư viên tự tìm tòi mọi thứ. Một tháng sau, Robert đã hoàn thành 4.000 dòng code của Bubble Ball. Bố mẹ đã tài trợ cho Robert 1 máy Macbook và mua các bản quyền phần mềm trị giá 1200 đô la. Bubble Ball có thể chơi được trên các thiết bị của Apple hoặc các thiết bị Android và cho tới nay đã đạt 7 triệu lượt tải về.
Cậu học sinh lớp 8 giờ đây đã có công ty trò chơi riêng tiếp tục phát triển Bubble Ball và sáng tạo nhiều trò chơi khá. Lời khuyên của cậu dành cho các bạn trẻ: ”Cứ thử đi, bạn sẽ làm được điều kỳ diệu”.

Mark Bao - Công ty: Supportbreeze - Tuổi: 18 - Website: supportbreeze.com
Mới 18 tuổi, cậu bé người New York, Mark Bao đã là một doanh nhân thành công trong lĩnh vực công nghệ và là một nhà hảo tâm rộng rãi. Mark đã bán được 3 công ty website và khẳng định 2 trong số đó sẽ sinh lời cao. Một trong số 3 trang web đó đã thu hút được 250000 người đăng ký chỉ sau 3 tuần ra đời. Mark cũng điều hành 2 tổ chức phi lợi nhuận.
Toàn bộ vốn liến kinh doanh đều cho anh chàng tự thân vận động. Một trong những sản phẩm nổi bật của Mark là trang threewords.me, một trang mạng xã hội cho phép mọi người miêu tả bạn bè trong 3 từ. Atomplan, một công cụ hỗ trợ việc quản lý cho các doanh nghiệp nhỏ và Facebook Idol, một ứng dụng âm nhạc tương tự cuộc thi “American Idol”.
Mark chia sẻ: ”Em đam mê công nghệ và cách mà nó biến đổi mọi thứ trong cuộc sống của chúng ta. Kinh doanh cũng vậy, nó tạo ra sự thay đổi”. Supportbreeze , sản phẩm mới nhất của Mark là một ứng dụng giúp doanh nghiệp quản lý các yêu cầu hỗ trợ, phản hồi của khách hàng, giúp giảm bớt thời gian và chi phí.
Ngoài giờ học ở trường, Mark dành thời gian đển tiếp tục xây dựng Supportbreeze và hỗ trợ một người bạn thân khởi nghiệp bằng 1 ứng dụng cho các thiết bị cảm ứng. Mark nói: ”Khi bạn còn trẻ, đừng sợ thất bại. Dù bạn thất bại hay thành công thì những gì bạn học được sẽ rất giá trị khi bạn tiếp tục trong tương lai”.

Lizzie Marie Likness - Công ty: Lizzie Marie Cuisine - Tuổi: 11 - Website: lizziemariecuisine.com
Năm Lizzie 6 tuổi, cô bé khao khát được học cưỡi ngựa và nài nỉ bố mẹ cho cô bé góp tiền để học ngay. Khi bố mẹ ngạc nhiên hỏi làm sao mà Lizzie kiếm được tiền, cô bé đã nói ngay “Con sẽ nướng bánh và mang bán ở hội chợ”. Từ đó, Lizzie trở thành nhà sáng lập của Lizzie Marie Cuisine.
""Lizzie Marie Cuisine rất độc đáo vì em dạy các bạn khác nấu những bữa ăn tốt cho sức khỏe, sống lành mạnh và giúp các bạn thấy được niềm vui trong việc nấu nướng”.
Vài năm sau, tiếng tăm của cô bé đã vượt ra khỏi cộng đồng địa phương. Lizzie nhận được nhiều lời mời biểu diễn nấu ăn với nhiều đầu bếp danh tiếng và xuất hiện trong nhiều chương trình truyền hình trực tiếp.
Cô bé cũng được chọn làm gương mặt đại diện cho Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và nhiều chiến dịch vận động vì sức khỏe khác. Hiện tại, Lizzie đã có một chương trình nấu ăn riêng trên TV. Sắp tới Lizzie dự định sẽ phát hành sách nấu ăn, bán thực phẩm tốt cho sức khỏe và thực hiện thêm nhiều show truyền hình. Lizzie nhắn nhủ “Phần thưởng lớn nhất là được làm điều mình yêu thích và điều này giúp ích cho mọi người xung quanh”.

Farrhad Acidwalla - Công ty: Rockstah Media - Tuổi: 17 - Website: rockstahmedia.com
Năm 13 tuổi, với 10 đô la của bố mẹ cho, Farrhad Acidwalla quyết định thành lập một trang web chuyên về hàng không và mô hình máy bay. Vài tháng sau, Farrhad bán trang web này với giá 12.000 đô la. Bốn năm sau, anh chàng đầu tư 400 đô từ tiền bán website năm nào vào Rockstah Media, giờ đây là một công ty quảng cáo quốc tế chuyên về thương hiệu và xây dựng website.
Trong tương lai, em dự định xây dựng xây dựng một trang web giải trí bằng tiếng Hindi. Acidwalla cũng tạo điều kiện cho 42 nhân viên được chia lợi nhuận. Chàng trai Ấn Độ chia sẻ:” Điều quan trọng nhất là chủ động, làm việc chăm chỉ và cống hiến hết mình”.

Asya Gonzalez - Công ty: Stinky Feet Gurlz - Tuổi: 14 - Website: stinkyfeetgurlz.com
Asya Gonzlez là “con nhà nòi”. Bố mẹ em đều là những doanh nhân thành đạt và ước mơ của Asya là nối tiếp truyền thống kinh doanh của gia đình. Cô bé kể “ Em từng hỏi bố sao chú không thể cùng đi chơi với gia đình, bố nói chú bận làm việc ở công ty. Từ đó, em biết rõ rằng em thích tự do, muốn tự làm ra tiền và tự đặt ra những quy tắc cho chính mình”.
Năm 13 tuổi, Gonzalez thành lập công ty thiết kế Stinky Feet Gurlz chuyên sản xuất và bán các sản phẩm áo thun và quần áo mang phong cách thập niên 40. Ngoài việc kinh doanh, công ty còn đóng góp một phần lợi nhuận cho tổ chức phi lợi nhuận do chính Asya thành lập. Tổ chức “She’s Worth It!” hoạt động góp phần ngăn chặn nạn buôn bán người và nô lệ tình dục trẻ em. Phương châm của tổ chức là “ Mua một chiếc áo, cứu một trẻ em”.
Asya hy vọng từ đầu năm sau, công ty của em sẽ sinh lời 20.000 đô la mỗi tháng. Cô bé nói: ”Nhiều người lớn hỏi em bí quyết thành công. Em nghĩ quan trọng nhất là làm điều khiến mình thấy vui vẻ”. |
943_1308218219_Asa-Griggs-Candler_3062_415_s.jpg
Coca Cola.Hơn 24 tỉ đôla doanh thu, 71 nghìn nhân công, được lăng xê thành một kiểu "phong cách Mỹ", ngày nay, Coca-Cola là một trong những nhà sản xuất, phân phối và tiếp thị đồ uống không cồn lớn nhất thế giới. Với hàng nghìn người, "Coke" hay "Coca-Cola" đã và đang có thời ám ảnh họ với những... cơn ghiền thực thụ.Ngay cả khi ưu thế độc quyền bị mất, Coke vẫn giữ được cho mình những fan trung thành cho đến cuối đời họ. Asa Candler - ông đã làm cho nhiều thế hệ "mắc nghiện" như thế!
Vết sẹo đầu đời Sinh ngày 30/12/1851 tại Villa Rica, bang Georgia, Mỹ, Asa Griggs Candler là con trai thứ 8 trong tổng số 11 người con của gia đình Samuel và Martha Candler. Asa lớn lên trong suốt thời kì nội chiến của nước Mỹ. Cha là một thương nhân giàu có và nổi tiếng, nhưng chiến tranh đã lấy đi tất cả những gì đáng giá trong gia đình Candler. Ngay từ khi lên 5, Asa đã bắt đầu đi học. Nhưng đến khi 10 tuổi, giấc mơ học hành chấm dứt. Nghỉ học, Asa phải làm việc cật lực trong trang trại của gia đình. Mặc dù có thể được nhận học tại trường Đại học Emory, nhưng Asa đã nhường suất đó cho cậu em trai Warren. Lý do rất đơn giản: Asa tin rằng mơ ước được phục vụ chính phủ của Warren là thật sự cao cả và đáng được thực hiện hơn rất nhiều. Ngay từ khi còn nhỏ, Asa Candler đã có một thiên hướng kinh doanh đặc biệt. Một lần, cậu nghe thấy tiếng động lớn từ khu nuôi gà dưới bếp. Lập tức, Asa chạy ngay xuống và phát hiện ra một con chồn. Đuổi mãi con chồn, cuối cùng, cậu cũng tóm được nó bằng hai tay. Trước khi bị giết, con chồn đã ghê gớm cắn trả và tặng nguyên cho cậu một miếng ngoạm lớn vào tay. Dù đã quá đau, nhưng cách trả thù của cậu không phải là... ném nó vào thùng rác. Dù chỉ nghĩ có thể kiếm được 70 cent, cậu vẫn quyết đem bán bộ lông của con chồn - thứ mà cậu cho rằng giá trị nhất. Kết quả của "thương vụ" này là... 1 đôla, hơn cả những gì mong đợi. Vết sẹo đầu tiên của cậu thế là đã không hề vô nghĩa Nhưng chưa dừng ở đó, “người mua bộ lông chồn này còn muốn có thêm hàng nữa, vì thế, tôi quyết định cùng mọi người đi săn. Số tiền thu về là không nhỏ”, Candler tự hào. Sau này, khi bắt đầu trưởng thành, anh chàng "hai tay bắt chồn" đó có mong muốn đặc biệt: được học ngành y. Nhưng vì không có tiền, cậu quyết định trở thành dược sĩ. Cậu thực tập tại 2 nhà thuốc ở thị trấn, nhưng số lương ít ỏi khiến Candler không hài lòng. Cậu quyết định tha phương tìm cơ hội. Năm 1873, khi vừa 22 tuổi, chỉ với 1,75 đôla trong túi, Candler lặn lội đến Atlanta. Cậu xin được một chỗ làm tại quầy thuốc của dược sĩ George J. Howard. Nhờ chăm chỉ làm việc, Candler nhanh chóng trở thành thư kí của cửa hàng. Tuy nhiên, mối quan hệ tiền tài - hạnh phúc lại mang dấu nghịch. Vì không được phép yêu con gái của ông chủ, Candler lại một lần nữa dứt áo ra đi. Cậu chọn cho mình con đường tự lập nghiệp mới. Ốm vì thuốc, khoẻ vì nước Năm 1877, Candler cùng rủ một trong những đồng nghiệp cũ Marcellus Hallman mở cửa hàng bán lẻ thuốc. Hồi đó, các dược sĩ được coi như những "thần y" biết chữa "bách bệnh" bằng những liều thuốc nước, dẫu cho nó chẳng mấy tác dụng. Suốt một thời gian dài, những liều thuốc nước này được pha chế theo một công thức đặc biệt nhằm phục vụ sở thích của người mua hơn là tác dụng chữa bệnh. Vì thế, quầy thuốc trở thành nơi thưởng thức đồ uống hơn là nơi mang lại sức khoẻ cho con người. Sản phẩm đầu tiên của Candler là một loạt nước hoa. Thành công này lớn đến nỗi Candler có đủ tiền để mua lại toàn bộ cửa hàng. Trong vòng 10 năm, công ty của Candler đã trở thành một trong những doanh nghiệp bán thuốc lớn nhất ở Atlanta với doanh số lên tới hơn 100.000 đôla/năm. Giá trị tài sản đạt tới 50.000 đôla. Candler tiếp tục sản xuất và bán các loại thuốc và dược phẩm đa dạng, cho đến một ngày kia, ông bị liệt giường bởi chứng đau nửa đầu. Nhưng việc này lại vô tình trở thành một khởi đầu tốt. Nằm liệt giường, nhưng trí não của Candler không hề chết. Căn bệnh của Candler tồi tệ đến mức ông sẵn sàng thử bất kì phương pháp nào có thể để thoát khỏi nó. Ông tìm đến một sản phẩm do dược sĩ John Smyth Pemberton chế xuất - một thứ được gọi là “Coca-Cola”. Nó được làm từ lá coca và hạt kola, và được coi là loại thuốc chữa bệnh đau đầu. Pemberton bán thức uống này với giá 5 cent/cốc tại cửa hàng thuốc của mình. Và khi Candler nếm thử nó lần đầu tiên, ông đã nghiện uống đồ uống này ngay lập tức. Thế là, máu kinh doanh từ bé trỗi dậy. Candler đã thực hiện một trong những quyết định táo bạo nhất của cuộc đời mình: bán toàn bộ sản nghiệp, cửa hàng thuốc, tranh ảnh… trong nhà. Tất cả những gì giá trị được đem ra bán hết, chỉ để có được gần 50.000 đôla. Việc đầu tiên, ông đầu tư 500 đôla vào công ty của Pemberton. Đến cuối năm 1891, chỉ với 2.300 đôla, ông đã nắm quyền kiểm soát sản phẩm Coca-Cola. Phần còn lại của số tiền, Candler tiếp tục đầu tư vào sản xuất và tiếp thị cho đồ uống này. Năm 1892, Candler thành lập công ty Coca-Cola ở Georgia với số vốn khoảng 100.000 đôla. Hơn một thế kỷ đã qua, song cho đến nay, công thức pha chế đồ uống này vẫn là một trong những bí mật kinh doanh được giữ gìn cẩn thận nhất thế giới. Người ta nói rằng chỉ có 2 giám đốc cấp cao nhất của Coca-Cola là được quyền tiếp cận với phòng pha chế. Và hương vị của Coca-Cola cũng gần như được giữ nguyên trong suốt thời gian dài. Về sau này, Candler cũng thay đổi một chút trong công thức để biến thứ đồ uống này trở nên ngon lành và dễ kiếm tiền hơn. Trong những ngày đầu kinh doanh, thay vì quảng cáo nó như những loại thuốc "bách bệnh" mà trước đây ông vẫn làm, Candler chuyển sang tập trung giới thiệu Coca-Cola như một loại đồ uống ưa thích. Năm 1899, hai luật sư người bang Tennessee đã gặp ông và đề xuất ý tưởng đóng chai cho sản phẩm. Nhưng Candler đã phạm phải một sai lầm chết người khi ông tỏ ý hờ hững với ý tưởng này. Ông đã giao toàn quyền cho hai luật sư đó trong việc đóng chai và bán sản phẩm. Chỉ nhờ có vậy, trong vòng 10 năm, doanh số của hãng đã tăng vọt từ khoảng 35.000 lít (năm 1890) tới gần 1,5 triệu lít (năm 1900). Kết quả là công ty Coca-Cola đã phải rất vất vả, tốn nhiều thời gian và tiền bạc để có lại được quyền đóng chai. Năm 1916, công ty kiếm được 27 triệu đôla. Với lợi nhuận không ngừng tăng, Coca-Cola trở thành công ty dẫn đầu trong ngành công nghiệp đồ uống không cồn ở Mỹ. Số tiền đầu tư 500 đôla của Candler lúc đầu đã thu về kết quả vượt quá sức tưởng tượng. Bên cạnh thị trường đồ uống, Candler còn rất thành công trong lĩnh vực ngân hàng và địa ốc. Từ năm 1916 đến năm 1919, ông còn là thị trưởng của Atlanta. Ngày 12/3/1929, ông qua đời sau một cơn đột quỵ. Trước khi mất, Candler đã kịp đóng góp 50 hecta đất để xây dựng công viên Candler, góp tiền để xây dựng Đại học Emory và Bệnh viện Emory - nơi những giấc mơ khởi đầu của cậu bé nghèo không thể đạt tới.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
979_1308217805_Merrill-JFernando-_3075_111_s.jpg
Ông chủ thương hiệu trà Dilmah
Merrill J. Fernando đã nỗ lực theo đuổi giấc mơ tạo nên một loại trà chất lượng cao và hấp dẫn, một thương hiệu trà của riêng mình. Và sau hơn 3 thập kỷ, giấc mơ của Merrill đã trở thành hiện thực. Năm 1988, ông chính thức tung ra thị trường thương hiệu trà của riêng mình. Tên sản phẩm ghép từ tên hai con trai của ông, Dilhan và Malik.
Trà Dilmah mang đến cho những người yêu thích trà khái niệm "hái, chế biến và đóng gói" ngay tại chỗ. Dilmah đã trở thành biểu tượng mẫu cho ngành công nghiệp sản xuất trà. Chính Merrill là người đầu tiên đưa ra khái niệm về "Trà tinh khiết" bằng việc chắt lọc những gì tinh túy nhất của hương vị trà Sri Lanka. "Ý tưởng xây dựng thương hiệu của riêng mình bắt đầu xuất hiện khi tôi còn là công nhân kiểm tra hương vị trà ở Sri Lanka. Tôi đã có một quá trình học tại Mincing Lance, London để nghiên cứu cách làm marketing, đặc biệt cho ngành công nghiệp trà. Đó là những kiến thức quý giá giúp tôi sớm có chiến lược riêng cho sản phẩm trà", Merrill J.Fernando tâm sự. Khi đó ông mới 24 tuổi. Trước đó, Merrill J.Fernando thấy trà Sri Lanka được xuất khẩu tới Australia, Canada, Anh, Nam Phi và cả một phần nhỏ nước Mỹ. Nhưng sau đó, một số nước trong thị trường truyền thống đã không nhập khẩu trà của Sri Lanka nữa, vì nhà nhập khẩu đã lừa dối, pha trộn nguyên liệu trà Sri Lanka với một số nguyên liệu có xuất xứ khác. Đó chính là điều thúc đẩy ông suy nghĩ về việc xây dựng thương hiệu trà và ông đã tính toán nhiều đến việc này trong một thời gian khá dài. Theo Merrill, trà được sản xuất từ nguồn nguyên liệu nào đều phải ghi nguồn xuất xứ rõ ràng trên bao bì cùng với tên của nhà sản xuất trên bao bì. "Tôi đã chứng kiến những khách hàng không may mắn, những người trồng trà bị bóc lột sức lao động và tôi nghĩ đó là thời điểm tốt nhất để phát triển thương hiệu trà của mình". Để làm được điều đó, ông đã mất rất nhiều thời gian, trăn trở để đặt tên cho sản phẩm của mình, làm sao nó phải thể hiện được trà của ông là loại trà nguyên chất không có sự pha tạp. Và ông quyết định chọn Australia là thị trường thử nghiệm cho thương hiệu trà Dilmah. Những gì Merrill J.Fernando làm đã được công nhận. Ông đã xây dựng thương hiệu trà Dilmah, loại trà mà người Anh lúc bấy giờ thừa nhận là loại trà ngon nhất thế giới. Đó chính là đòn bẩy thuận lợi cho việc phát triển thương hiệu của ông trở nên thành công trên thương trường quốc tế. Merrill là một nhà xuất khẩu lớn thứ tư thế giới về trà với số lượng lớn vào đầu những thập niên 70. Ngay sau khi ông bắt đầu xuất khẩu trà túi lọc, thì kinh doanh về trà với số lượng lớn lại bị chìm xuống bởi Dilmah phải đấu tranh với các khách hàng - những người đang nhập khẩu trà số lượng lớn của Dilmah với những loại trà túi của tự họ sản xuất ra. Merrill J.Fernando đã làm yên lòng khách hàng bằng đề nghị sẽ sản xuất trà túi lọc thay trà với số lượng lớn. Thực tế khách hàng đã nhìn thấy lợi ích trong đề nghị của ông, họ bắt đầu mua trà của Merrill J.Fernando. Merrill tiếp tục cung cấp sản phẩm cho công ty đối tác Coles. Họ đã chào hàng khoảng từ 15% hay 20% trà Sri Lanka dưới dạng trà đóng gói địa phương (là những loại rất thông thường). Sau đó, họ bắt đầu tung ra thị trường loại trà Sri Lanka có chất lượng tốt, không có bất cứ trung gian nào giữa Merrill J.Fernando và Coles. Tiếp đến là Woolworths tiếp cận ông. Vào thời điểm đó, ông cũng đang cung cấp cho hầu hết những người bán lẻ ở Australia và cho tung ra hàng loạt những máy móc thiết bị mới. Hiện nay, ông nhận được nhiều đơn đặt hàng. Mỗi tuần có ít nhất một đơn đặt hàng từ 1 quốc gia mới và nhiều đơn đặt hàng ở những quốc gia mà công ty mở đại diện. "Hiện chúng tôi đang xuất khẩu khoảng 7.500 đến 8.000 tấn. Tôi không muốn xuất khẩu 20.000 tấn bởi vì tôi không có khả năng duy trì những tiêu chuẩn chất lượng mà tôi đã thiết lập. Chúng tôi sẽ rất vui với mục tiêu trong tương lai là 10.000 tấn. Sau đó chúng tôi muốn thực hiện những dự án khác xung quanh mặt hàng trà và xa hơn nữa là nâng cao hình ảnh của trà Sri Lanka" ông cho biết.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
999_1308217570_Calvin-Klein_3090_646_s.jpg
Kẻ chinh phục có đôi tay phù thủy.Khởi nghiệp
Niềm đam mê mà Klein có được bắt nguồn từ những năm tháng tuổi thơ ở Bronx, New York. Cậu bé Calvin Klein sinh ngày 19/11/1942 trong một gia đình nhập cư Áo-Hungary. Cha Klein có một cửa hàng tạp hóa và Calvin hay ở đó giúp ông bán hàng.
Không bao giờ chơi thể thao với bọn trẻ hàng xóm, sở thích của cậu khá lạ đời: ở nhà tự học cách tạo mẫu và may vá. Niềm yêu thích tiếp theo của cậu là đi mua sắm quần áo giảm giá cùng mẹ. Vì thế, cậu có rất ít bạn. Tuy nhiên, cậu không cô đơn, bởi cậu có một tình yêu đặc biệt với thời trang. Rất rõ ràng với mục tiêu của mình, khi chỉ mới 20 tuổi, Klein đã tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Thời trang ở New York. Hai năm sau đó, năm 1964, Klein cưới người vợ đầu tiên - cô bạn học Jayne Centre, và khởi nghiệp tại quận thời trang New York. Sau một thời gian làm việc cho một nhà tạo mẫu váy, Klein chuyển sang tạo mẫu áo khoác châu Âu với tiền lương 75 đôla/tuần. Thời điểm đó, những nhà tạo mẫu lớn của Mỹ chỉ đơn giản bắt chước các mẫu của châu Âu. Kinh nghiệm trong những năm đầu làm việc đã cho Klein một cái nhìn xuyên suốt về ngành kinh doanh thời trang và giúp Klein rèn luyện những kỹ năng đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, việc chỉ sao chép những mẫu thiết kế khiến cho Klein cảm thấy chán nản. Khi 26 tuổi, Klein bỏ học việc và quyết định mở công ty riêng. Chiếm lĩnh thị trường nước Mỹ: Calvin kẻ chinh phục Với 2.000 đô la dành dụm được và 10.000 đô la vay từ người bạn Barry Schwartz, Klein đã thành lập công ty Calvin Klein Ltd. Schwartz trở thành đối tác của Klein và cả hai bắt đầu tham gia vào trò chơi đầy biến ảo của ngành thời trang. Tập trung đầu tiên của Klein là vào dòng áo khoác. Ông tạo ra những mẫu thiết kế riêng, sử dụng những kỹ năng học được từ công việc trước. Sau một năm, mọi chuyện chuyển biến bất ngờ. Một doanh nhân đi nhầm cầu thang máy và tình cờ dừng bước trước văn phòng của Klein. Đây chính là doanh nhân chuyên thu mua áo khoác cho cửa hàng Bonwit Teller. Sau khi đặt lô hàng trị giá tới 50.000 đôla, ông ta đã nói: "Ngày mai, mọi người sẽ biết đến cậu". Chỉ tính riêng trong năm đó, doanh số của công ty đã đạt tới 1 triệu đôla. Tạo được ấn tượng rồi, nhưng Klein chưa dừng lại ở đó. Năm 1973, ông thiết kế ra dòng quần áo thể thao đầu tiên và ngay lập tức trở thành tay chơi chính trong ngành công nghiệp thời trang. Bộ sưu tập của ông bắt đầu nổi tiếng với tên gọi "Phong cách Calvin Klein". Trong ba năm liên tiếp kể từ năm 1973, Klein được trao tặng giải thưởng Coty - giải thưởng danh giá nhất trong ngành thời trang. Nhưng khi đang tận hưởng thành công thì gia đinh Klein tan vỡ. Sau khi ly dị năm 1974, Klein sa vào con đường nghiện ngập. Bốn năm trời, ông là khách hàng quen thuộc của các hộp đêm và mê man trong tiệc rượu. Chỉ khi cô con gái 11 tuổi của ông là Marci bị bắt cóc năm 1978, cuộc sống của Klein mới yên tĩnh trở lại. Marci trở về nhà an toàn, và Klein quyết tâm tập trung vào công việc. hững mẫu thời trang và quảng cáo gây sốc Từ bỏ những mẫu thiết kế cổ điển và không có nhiều cá tính, Klein đã làm một cuộc cách mạng với một phong cách đơn giản và sang trọng. Cuối thập kỷ 1970, Klein tung ra một khái niệm thời trang hoàn toàn mới: thiết kế đồ jeans với mức giá phải chăng. Năm 1980, ông khởi động chiến dịch marketing rầm rộ cho bộ sưu tập đồ jeans bó của mình. Với người mẫu 15 tuổi Brooke Shields trong một tư thế thách thức đầy gợi cảm và nói "Không có gì ở giữa tôi và quần áo hiệu Calvin", Klein đã bán được 200.000 chiếc quần jeans chỉ trong tuần đầu tiên. Khách hàng như phát sốt với những chiếc quần jeans này, còn chị em phụ nữ trên toàn thế giới thì chứng minh quan điểm đồng tình với Brooke Shields bằng cách bỏ tiền ra mua đồ hiệu CK. Cũng có người chỉ trích quảng cáo của Klein, nhưng doanh số thì không ngừng tăng lên. Klein đã một mình làm thay đổi cách mà thời trang được tiếp thị ra công chúng. Ông kết hôn lần thứ hai và lại ngập trong chất kích thích và men rượu. Nhưng Klein, lại một lần nữa, vượt qua chính bản thân mình. Vận may đã đến với Klein khi bạn ông, ông trùm truyền thông David Geffen mua lại 60 triệu đôla khoản nợ của công ty. Calvin Klein Ltd. đã được phục hồi và Klein cũng vậy. Vì sao Klein được yêu mến? Klein là một nhà thiết kế xuất sắc, đúng vậy. Nhưng điều thật sự gây ấn tượng của Klein là khả năng kinh doanh và marketing thiên tài trong việc đưa ra các mẫu quảng cáo cuốn hút và phát triển ngành kinh doanh của mình thành một đế chế toàn cầu. Có thể ông chưa bao giờ được học về kinh doanh và marketing, nhưng những kiến thức của ông về xu hướng thị trường, hình ảnh và tác động tới tâm lý khách hàng đã biến ông thành một biểu tượng và trở thành đề tài bàn luận của nhiều trường kinh doanh nổi tiếng. Không lâu sau đó, ông bắt đầu giới thiệu những dòng sản phẩm hợp túi tiền hơn và mở rộng thương hiệu sang các lĩnh vực khác như kính râm, đồng hồ và ví. Ông cũng giới thiệu loại nước hoa dùng cho cả hai giới đầu tiên với cái tên CK One, đồng thời liên kết nước hoa với giới tính và sự gợi cảm để biến dòng nước hoa cao cấp của mình (như Obsession, Eternity, Escape, CK One, Contradiction…) thành sản phẩm được ưa chuộng bậc nhất trên thế giới. Năm 2002, Klein đã bán công ty của mình cho tập đoàn Philips Van Heusen với giá 400 triệu đôla và sở hữu 30 triệu đôla cổ phiếu. Trước khi được bán, công ty Calvin Klein đã có tới 900 nhân viên làm việc và doanh số bán hàng trên toàn cầu trên 3 tỉ đôla. Trong suốt sự nghiệp của mình, Klein đã gây rất nhiều tranh cãi với những chiến dịch quảng cáo của mình. Năm 1995, ông còn làm những người chống khiêu dâm tức giận với một loạt mẫu quảng cáo nam nữ thanh niên trong tư thế gợi cảm. Sức ép mạnh đến mức chính Tổng thống Bill Clinton và Liên đoàn Thiên Chúa giáo phải lên tiếng phản đối, và Klein lúc đó mới chịu từ bỏ những quảng cáo này. Là nhà thiết kế cho rất nhiều ngôi sao danh tiếng và có sức ảnh hưởng lớn đến những thế hệ đàn em trong ngành thời trang, năm 1996 được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 25 người có ảnh hưởng nhất đến nước Mỹ . Calvin Klein - nhìn lại Vì sao Klein nổi tiếng? Con người Calvin Klein nổi tiếng, nhưng nhãn hiệu mang tên ông còn nổi tiếng hơn, từ thị trường thời trang cho tới mỹ phẩm. Thương hiệu "Calvin Klein" là một trong những thương hiệu đáng giá nhất thế giới bên cạnh CocaCola, Kodak, IBM, Nike... Một thiên tài marketing, một phù thủy trong lĩnh vực thiết kế thời trang, một người biết cách tạo ra hình ảnh cho sản phẩm và cho chính bản thân mình, Calvin Klein chính là biểu tượng cho tinh hoa thời trang của nước Mỹ cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này. Trang phục của Klein được thiết kế với những chi tiết tối thiểu cho phép sản xuất đại trà, sự thoái mái cho phép nhiều người mặc được, thiên hướng sử dụng chất liệu xịn để từ đó làm nổi bật cho những đường nét tưởng chừng vô cùng đơn giản. Triết lý thiết kế của ông trong lĩnh vực đồ jeans cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, những ranh giới được ông đẩy đến tận cùng khi "cải tổ" đồ lót, những hình ảnh quảng cáo đầy khiêu khích và gợi cảm đã tạo ra một hình tượng mới trong văn hóa thời trang của thế giới. Sau chuỗi thành công liên tiếp với nhiều thăng trầm, Klein đã trở thành một người hùng trong giới trẻ Mỹ. Bởi chiến lược marketing của Klein về đồ jeans, đồ lót và nước hoa luôn thống nhất với nhau ở một điểm: tấn công mạnh mẽ vào giới tính và sự gợi cảm. Chính vì thế, giới trẻ đam mê Klein không chỉ bởi những sản phẩm đẳng cấp của ông, mà còn bởi họ tìm thấy được cảm xúc và sức mạnh của mình trong đó.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1020_1308217253_Thomas-Lipton-_3103_441_s.jpg
Ông chủ thương hiệu trà Lipton số 1 thế giới Thomas Lipton sinh ngày 10/5/1850 tại Glasgow thuộc xứ Scotland, nước Anh. Đúng ra, gia đình ông lại là người Irland sang định cư tại đây.
Từ nhỏ, Thomas đã được biết đến là cậu bé rất nhanh nhẹn và chăm chỉ, không ngại làm bất cứ việc gì, bắt đầu cuộc sống tự lập từ rất bé. Năm 1865, Thomas Lipton thôi học và đi làm để kiếm tiền. Nghe theo nhiều người quen, cậu bé 15 tuổi quyết tâm bỏ nhà một mình sang Mỹ kiếm sống. Số tiền ít ỏi cậu có được chỉ vừa đủ mua chiếc vé tầu thuỷ đi từ Glasgow sang Mỹ. Khi ra đi, Thomas Lipton nói với bố rằng sẽ sang Mỹ để học nghề và chắc chắn sẽ sớm trở về quê để lập nghiệp. Ông lang thang đi khắp nước Mỹ để kiếm sống và trải qua nhiều nghề khác nhau. Đầu tiên ông làm công nhân cho một đồn điền ở Virginia, làm chân sai vặt ở South Carolina. Như đa phần những người nhập cư khác, Thomas Lipton chuyển về New York và làm việc phụ lái xe trong thành phố. Cuối cùng thì Thomas Lipton có vẻ hài lòng nhất khi làm chân bán hàng tại một cửa hàng thực phẩm tại New York. Lipton đã học rất nhanh những kinh nghiệm bán hàng. Chỉ sau vài tháng Lipton đã biết ngay cái nghề mà mình muốn học chính là nghề kinh doanh. Những kinh nghiệm buôn bán, kinh doanh tích góp được càng làm tăng thêm khao khát kinh doanh của chàng thanh niên chưa đầy 20 tuổi. Cuối năm 1869, sau gần 5 năm ở Mỹ, Thomas Lipton trở lại quê hương để lập nghiệp. Năm 1871, với vỏn vẹn 100 Bảng Anh, ông đã mở một cửa hàng kinh doanh thực phẩm mang tên Lipton ở Glasgow, thủ phủ xứ Scotland. Không một ai, kể cả cha ông, lại nghĩ rằng đó là một quyết định đúng đắn đã đưa Thomas Lipton trở thành triệu phú nước Anh chỉ hơn 10 năm sau. Nhà kinh doanh đam mê trà Thomas Lipton kinh doanh rất thành đạt. Vốn ít nhưng ông đã biết cách đàm phán để nhà sản xuất nhập hàng trả chậm. Hơn nữa Thomas Lipton rất biết cách quảng cáo để thu hút khách hàng. Xuất thân từ gia đình lao động, Thomas Lipton chủ trương định hướng vào khách hàng là người có thu nhập bình thường trong xã hội. Vì thế giá cả phải chăng là yếu tố mấu chốt để bán được hàng. Thomas Lipton quyết định phải mở thật nhiều cửa hàng để có thể nhập hàng khối lượng lớn với giá rẻ. Hơn nữa ông tin rằng với những ý tưởng và kinh nghiệm học hỏi từ Mỹ, ông sẽ có cách quản lý kho hàng và phân phối sao cho tối ưu nhất, tiết kiệm nhất. Sau 5 năm, Thomas Lipton đã mở được 20 cửa hàng thực phẩm Lipton. Năm 1881, sau 10 năm Thomas Lipton đã có cả một hệ thống gần 300 cửa hàng thực phẩm Lipton ở khắp nước Anh. Riêng tại London ông đã cho mở hàng chục cửa hàng như vậy. Trà lúc này đã xuất hiện ở Anh từ lâu nhưng vẫn chỉ dành cho giới thượng lưu, bởi còn hiếm và rất đắt. Những thương gia đi tầu biển sang châu Á chỉ chuyển về một số lượng có hạn trà đem bán lại cho các cửa hàng thực phẩm dành cho quí tộc và người giàu có. Thomas Lipton rất thích uống trà. Ông đam mê thưởng thức từng ngụm trà vàng óng, nóng hổi mỗi ngày. Ông tự hình dung sẽ có biết bao triệu người bình thường nếu được thưởng thức thứ nước uống này rồi cũng sẽ đam mê và nghiện trà như ông. Thomas Lipton nghĩ ngay tại sao mình không thể nhập trà với số lượng lớn để bán. Chắc chắn số lượng lớn sẽ phải rẻ. Với hệ thống cửa hàng bán lẻ dày đặc của mình, Thomas Lipton tin chắc thứ nước trà với hương vị thơm ngát quyến rũ sẽ chinh phục được người tiêu dùng. Xây dựng thương hiệu trà số 1 thế giới Với đa số người dân bình thường thì cách thức pha trà vẫn còn rất lạ với họ... Khách hàng của Thomas Lipton chỉ có thể mua những gói rất nhỏ. Những cửa hàng thực phẩm cao cấp có bán trà thì đều bán như bán muối, bán bột mì, người bán xúc từ bao tải và đem cân cho khách. Thomas Lipton đã rất tinh khi phát hiện ra điều đó và ý tưởng công nghệ đóng gói trà xuất hiện. Ngay lập tức ý tưởng độc đáo và tuyệt vời này được Thomas Lipton thực hiện. Trà được Thomas Lipton đóng gói từng gói nhỏ 100 gram, 200 gram phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng. Mỗi gói đều có nhãn hiệu và cách thức pha trà. Bao nhiêu trà, bao nhiêu nước, thời gian bao nhiêu là vừa đã được Thomas Lipton ghi tỉ mỉ ngoài hộp giấy. Thương hiệu trà Lipton chính thức xuất hiện từ khi đó. Với khách hàng có thu nhập thấp thì mua từng gói nhỏ là hết sức tiện lợi và phù hợp. Hơn nữa với việc đóng gói nhỏ, trà không chóng bị mất hương thơm như các nhà giàu mua cả bao, cả thùng. Chính vì vậy chất lượng trà Lipton nhanh chóng lan truyền khắp nơi. Những quí tộc giàu có cũng đến mua không chỉ vì rẻ vì tiện lợi mà còn có chất lượng cao hơn, nhờ những gói nhỏ được đóng bao kín. Thomas Lipton có 3 loại trà khác nhau, trong đó loại ngon nhất mang tên Lipton Quality No.1, được đựng trong hộp màu vàng, logo ghi chữ Lipton màu đỏ. Năm 1890, theo lời khuyên của một người bạn, Thomas Lipton đã theo những lái thương tầu biển sang tận Ceylon, tên gọi trước kia của Srilanka. Tại đây ông đã chứng kiến nhiều đồn điền cà phê bị chặt bỏ và Thomas Lipton đã nghĩ ngay đến việc đầu tư trồng trà thế chỗ. Ông đã bỏ tiền mua 2.230 hecta đất tại Ceylon để trồng trà. Thomas Lipton đã khéo léo sử dụng nguồn gốc trà Ceylon nổi tiếng để quảng bá cho trà Lipton của mình. Thương hiệu Lipton vì thế ngày càng phổ biến đồng thời lại có được giá trị của loại trà cao cấp chính hiệu với nguồn gốc rõ ràng. Thành công rất lớn của Thomas Lipton là ông vẫn giữ được đẳng cấp rất cao của trà Lipton mà bán ra với một cái giá hợp lí được số đông chấp nhận. Đây chính là điều mà các chuyên gia Marketing vẫn còn khâm phục và ngưỡng mộ ông. Ngày nay cũng vậy, những chén trà Lipton hay những gói trà Lipton dù giá cả khá bình dân nhưng vẫn toát lên một cái gì đó sang trọng và lịch sự.
- Theo Thời Báo Kinh Tế Việt Nam.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1039_1308217036_Schwarzenegger-_3117_268_s.jpg
Làm nên sự nghiệp nhờ... khủng hoảng?
Cuối năm 2003, ông lên ghế thống đốc bang California do người tiền nhiệm bên phía Ðảng Dân chủ không chèo chống nổi khủng hoảng ngân sách. Năm 2006, do có hướng đi thuyết phục nhằm vượt qua vụ bê bối môi trường mà ông tái đắc cử. Còn bây giờ thì sao? Vạn sự khởi đầu nan
Nghề diễn viên ít nhất cũng để lại cho người hùng cơ bắp này một khả năng diễn xuất: Không mấy ai nhìn mặt Schwarzenegger mà biết ông đang nghĩ gì. Bây giờ cũng vậy, nếu có hỏi ông về cuộc khủng hoảng kinh tế đang làm nước Mỹ và chính bang California lao đao thì cũng chẳng khiến ngài Thống đốc giật mình, vì để đạt được vị thế hôm nay, Schwarzenegger đã trải qua nhiều thăng trầm. “Thế giới vô cùng rộng lớn và California chỉ là một chấm nhỏ. Số phận đã đưa tôi đến đây”, ông bộc bạch, “Ngày lên sân khấu để tranh chức Mr. Universe (1967), danh hiệu cao nhất trong làng thể hình, tôi tự hỏi: Mình có điên không nhỉ?”. Nhìn lại thì ai cũng cho rằng số phận mỉm cười quá nhiều lần với nhân vật đến từ làng Thal nhỏ bé của nước Áo này. Nhưng thực ra không hẳn thế. Dù làm ra nhiều tiền, Schwarzenegger không từ bỏ quốc tịch Áo nên không thể theo đuổi cho hết khóa quản trị kinh doanh ở một trường, mà tại mỗi trường, ông chỉ được học một số học trình nhất định. Mãi đến năm 1979, ở tuổi 32, ông mới tốt nghiệp ngành Thương mại và kinh tế quốc tế tại University Of Wisconsin-Superior. Chuyện bằng cấp của Schwarzenegger chưa hết lận đận: Năm 2001, trường IMADEC ở Vienna muốn trao cho ông bằng Tiến sĩ danh dự, song tòa án hành chính Áo không chấp nhận, vì đại học tư nhân không được phép làm việc này. Không chỉ ở quê cũ, cả châu Âu từng chỉ trích Schwarzenegger vì ông có thái độ cứng rắn khi ủng hộ án tử hình tại California. Thậm chí hồi năm 2005, sân vận động Arnold Schwarzenegger ở Graz (Áo) đã bị đổi tên sau khi ông kiên quyết không ân xá cho tử tù Stanley Williams. Đường vòng Như Ronald Reagan trước kia, phần nào nhờ “cưỡi ngựa bắn súng trên màn bạc” mà về sau vào được Nhà Trắng, Schwarzenegger đạt danh tiếng ở Mỹ qua các bộ phim của Hollywood. Năm 1982, sau một loạt phim rẻ tiền, ông được mời đóng trong Conan The Barbarian và lần đầu tiên gây chú ý. Hai năm sau là Conan The Destroyer và cùng năm đó, cả Schwarzenegger lẫn đạo diễn James Cameron đã trở thành người hùng ở Hollywood nhờ phim The Terminator. Lần đầu tiên ông vào vai phản diện và thành công ngay. Thắng lợi đó không chỉ là may rủi khi Arnie tiếp tục gây tiếng vang với Commando, Predator, Terminator 2: Judgment Day, True Lies v.v... Tuy nhiên, kể cả khi tên tuổi đã lên tới đỉnh cao của nghệ thuật thứ bảy và từng diễn cạnh Danny DeVito để chứng minh rằng mình cũng có khả năng đóng phim hài, Schwarzenegger vẫn bị các nhà phê bình khéo léo nhắc nhở đến chi tiết: Trong cả phim The Terminator, ông chỉ nói vỏn vẹn 17 câu với 70 từ! Rồi các hoạt động chính trị dần lấy hết thời giờ của con người nhiều tham vọng này. Tham vọng và điểm dừng? Xét cho cùng, tất cả những kế hoạch mà Schwarzenegger vẽ ra thì ông đều đã đạt được: danh hiệu Mr. Universe, trở thành một trong những diễn viên màn bạc nổi tiếng nhất, thống đốc bang California... Ông ưa đồng hồ xa xỉ và ô tô Hummer, với tài sản cá nhân vượt ngưỡng 100 triệu USD thì hầu như muốn gì cũng được, nhưng Schwarzenegger là người không biết ngơi nghỉ. Hiện nay, mỗi ngày ông dậy vào lúc 6h để tập thể dục, sau đó đọc tổng hợp báo chí và ăn sáng rồi lao vào công việc. “Tôi luôn bị coi thường vì là người nhập cư, nói tiếng Anh pha giọng Áo, vì “tứ chi phát triển” thì ắt đầu óc khó sáng sủa”, Schwarzenegger cười rộng lượng - ông đã chỉ cho các đối thủ thấy rõ mình là ai. Sáu năm làm thống đốc, ông đã trải qua nhiều trận cháy rừng và các cơn động đất lớn nhỏ ở bang của mình. Từ khi người cha qua đời lúc Arnie mới 20 tuổi, ông ít liên lạc với họ hàng ở Áo và đất nước này nói chung. Schwarzenegger còn tràn đầy năng lượng, quá thừa để đạt những dự định trước mắt. Hết nhiệm kỳ này, theo luật Mỹ là nhiệm kỳ cuối cùng của ông ở vai trò thống đốc bang, Schwarzenegger sẽ làm gì? Ghế tổng thống Mỹ thì vô vọng, vì ông không sinh ra tại xứ cờ hoa. Về lý thuyết, Schwarzenegger có thể giữ chức bộ trưởng, nhưng hình như ông không hứng thú lắm với mục tiêu đó. Lần đầu tiên trong đời, Schwarzenegger không có hoạch định cho tương lai. Và đó, suy cho cùng, phải chăng cũng là một dạng... khủng hoảng?
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
940_1308218293_Charles-Dunstone_3038_450_s.jpg
Ông chủ 2.400 cửa hàng khởi nghiệp từ tiền lẻ.Charles Dunstone lập ra một công ty nhỏ năm 1989 với vỏn vẹn 6.000 bảng Anh. Nay, Carphone Warehouse là công ty bán lẻ điện thoại di động lớn nhất châu Âu. Ông chủ Charles Dunstone hiện sở hữu hơn 2.400 cửa hàng lớn nhỏ tại chín quốc gia châu Âu, đạt doanh thu gần 4,5 triệu bảng Anh mỗi năm.Ấy thế nhưng, anh lại tâm sự một cách giản dị: “Thật ra, cũng chẳng có gì ghê gớm. Tôi mở một cửa hiệu bán điện thoại di động và đơn giản là gặp thời”. Mải kinh doanh đến bỏ thi đại học Charles Dunstone sinh tại Cambridge (Anh), học trường Uppingham. Anh được tiếp thu một nền giáo dục rất điển hình cho tầng lớp trung lưu, mặc dù anh dùng những cụm từ “rất đỗi bình thường, chẳng có gì đặc biệt” để miêu tả cho con đường học hành của bản thân. Bố Charles làm cho BP, còn mẹ anh đảm đang công việc nội trợ. Hồi Charles vẫn còn là cậu học sinh trung học, bố anh được cử sang Đan Mạch công tác, và thế là, Charles chuyển sang chế độ “tự quản”. Anh từng gây sốc cho tất cả mọi người trong nhà, khi bỏ qua cuộc thi vào trường đại học Liverpool chỉ vì đang rất thích thú với công việc làm thêm cuối tuần - bán máy tính trong một cửa hàng điện tử. Sở thích kinh doanh của Charles thực ra có từ hồi học ở trường Uppingham. Charles bán linh tinh đủ thứ hàng cho bạn bè trong trường, nào kính râm, bật lửa, bút máy... Nhưng Charles không trực tiếp bán hàng, mà thuê một người bạn, vốn tính dạn dĩ, đứng ra làm “nhân viên kinh doanh”. Một năm làm việc cho Torch Computers tại Cambridge, anh tậu được chiếc xe Ford Escort mới toanh. Ai lại muốn vào trường đại học khi cơ hội đang phơi phới như thế? Tuy nhiên, tình hình trong Công ty Torch dần trở nên rối tinh, rối mù. Khi công ty cải tổ, Charles Dunstone chuyển sang làm cho NEC. Về sau này, NEC bố trí anh ở bộ phận bán điện thoại di động. Charles nhớ lại:“Mất cả ba ngày, tôi mới nhận ra một điều rằng, đây là dịp may trong đời mình. Thị trường điện thoại di động đang trên đà chuẩn bị phát triển mạnh, nhu cầu lúc bấy giờ vượt quá khả năng cung cấp”. Anh không tốn công để bán mà hàng cứ “tự tiêu thụ”. Được ba năm, Charles bắt đầu cảm thấy chán. Anh phát hiện ra rằng, tất cả những khách hàng sử dụng điện thoại dạng “tầm cỡ” đều là những doanh nghiệp độc lập, trong khi NEC lại tỏ ra hợm hĩnh với họ. Lúc đó, Charles có sổ tiết kiệm 6.000 bảng Anh, vừa đủ để mở một cửa hiệu, cộng với mối quan hệ gây dựng được khá rộng rãi, và lòng nhiệt huyết cháy bỏng. Anh rời NEC, tự mở công ty có tên Carphone Warehouse, chung với người bạn cũ từ thời cùng học trường Uppingham, David Ross. Anh phụ trách mảng bán hàng, còn Ross lo tài chính. Họ cắm cúi làm việc. “Tôi nghĩ, bí quyết của chúng tôi lúc bấy giờ là niềm tin vào một bước nhảy vọt mà chúng tôi thế nào cũng sẽ làm được” - Charles kể lại. Ra đời kiểu kinh doanh “tư vấn bán hàng” Tôi khuyên mọi người hãy xem xét công việc mình làm với một con mắt hoàn toàn mới, và hãy coi rằng mỗi đồng bảng là một “tên tù” cần được trả lại tự do, nghĩa là đầu tư vào việc khác có ý nghĩa hơn - Charles Dunstone Charles Dunstone có tham vọng trở thành nhà cung cấp điện thoại di động số một ở châu Âu trong vòng 10 năm. Cho tới nay, công ty của anh đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Tất cả các cửa hàng đều kinh doanh theo một công thức cố định: một đội ngũ nhân viên rất thạo việc, sẵn sàng chỉ dẫn và đưa ra những lời khuyên ngắn gọn và khách quan khi khách hàng có nhu cầu, và giá cả dịch vụ rất vừa phải. Anh gọi đó là kiểu kinh doanh “tư vấn bán hàng”. Đối với thị trường điện thoại di động luôn thay đổi và cải thiện mẫu mã, chức năng, công nghệ mới, đây là một sách lược “nắm phần thắng trong tay”. Carphone Warehouse thậm chí còn cung cấp cho khách hàng những thông tin trung thực về tác hại của việc sử dụng điện thoại di động đối với sức khỏe. Công ty hiện nay đứng thứ ba về dịch vụ băng rộng tại Anh, dù thời gian gần đây kết quả kinh doanh có giảm sút, do tình trạng khó khăn trên thị trường nhà đất (thông thường người dân thay nhà cung cấp dịch vụ khi họ chuyển sang nhà mới). Mục đích lâu dài của công ty vẫn là cung cấp dịch vụ viễn thông song song với việc bán điện thoại di động. Khi Carphone Warehouse đưa ra dịch vụ Talk Talk (dịch vụ điện thoại lắp tại nhà và băng rộng), Charles đề ra mục tiêu chiếm lĩnh 15% thị trường. Trên thực tế, anh đạt đến con số 18%, và anh vẫn còn nói với giọng chưa thật hài lòng: “Cũng đủ, nhưng kể ra tôi muốn hơn một chút nữa cơ!”. Cùng với hai nhà sáng lập là Guy Johnson và David Ross, Charles Dunstone trở thành triệu phú, khi Carphone Warehouse xuất hiện trên thị trường chứng khoán London năm 2000. Khi được hỏi về những biện pháp cần làm để kéo công ty qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay, anh bộc bạch: “Chúng tôi xem lại giá thành sản phẩm và dịch vụ của mình, đồng thời nhận thức rằng, xu hướng chung là mọi người sẽ chi tiêu ít đi. Vì thế, tôi kêu gọi những cán bộ quản lý trong công ty tìm mọi cách dò ra những lỗ hổng trong tổng chi phí 1,3 tỉ bảng Anh hàng năm của công ty”. Tháng Năm năm ngoái, Charles Dunstone bán lại nửa Công ty Carphone Warehouse cho nhà khổng lồ chuyên kinh doanh hàng tiêu dùng Best Buy (Mỹ) với giá 1,1 tỉ bảng. Hai công ty hợp nhất lại để cùng tập trung vào một mục đích: tạo ra thị phần trên thị trường tiêu dùng điện tử lớn như ở Mỹ, nơi mà Best Buy chiếm lĩnh tới 20% thị trường với doanh thu hàng năm hơn 20 tỉ bảng Anh. Số tiền 1,1 tỉ bảng Anh dùng để trang trải nợ nần cho công ty và đầu tư thêm vào các mảng kinh doanh bán lẻ điện thoại di động và dịch vụ băng rộng. Một tờ báo của Anh năm 2006 gọi Charles Dunstone là người “lấy công việc làm vợ”, bởi sự say mê và miệt mài với sự nghiệp kinh doanh của anh. Tổng tài sản của Dunstone năm nay ước tính ở con số khoảng 276 triệu bảng.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
|
948_1308218102_Frank-Stronach_3067_295_s.jpg
Tỉ phú độc đoán
Xét về những gì mà Frank Stronach đang có trong tay thì có thể nói ông là người hạnh phúc. Stronach là một trong số ít người giàu nhất Canada. Tập đoàn Magna do ông sáng lập là một trong những nhà sản xuất phụ tùng xe hơi lớn nhất thế giới. Magna có 326 cơ sở sản xuất, thiết kế, trung tâm thương mại tại 25 quốc gia trên thế giới, từ Bắc Mỹ đến Nam Mỹ, từ châu Âu đến châu Á.
Magna có bạn hàng là hầu hết các nhà sản xuất xe hơi của thế giới. Ngay cả khi kinh tế toàn cầu suy thoái, thì vào năm 2008, tập đoàn Magna vẫn đạt doanh số 28 tỉ USD, lợi nhuận ròng là 71 triệu USD, trong đó 40 triệu USD thuộc về Stronach. Tuy thế, Stronach vẫn chưa hài lòng với những gì đạt được. Từ lâu, ông luôn hướng tới thành lập dây chuyền sản xuất xe hơi khép kín mang thương hiệu của riêng mình. Vào năm 2007, ông định mua lại hãng Chrysler, nhưng không thành công. Giờ đây ông đang muốn thôn tính Opel để có thể hát khúc khải hoàn ca. Trở về cội nguồn Trong trường hợp thôn tính được Opel, thì trong lịch sử của Magna đây là thương vụ lớn nhất, nó nâng cao vị thế của Stronach trên trường quốc tế. Hơn thế đó cũng là sự quay về với cội nguồn châu Âu của nhà tư bản này. Nói thế vì Frank Stronach sinh năm 1932 tại Áo. Đến năm 22 tuổi (1954), Stronach sang định cư tại Canada với vài đồng USD trong túi và một va-li đồ nghề. Cho đến nay ông luôn nhớ về mẹ của mình với những điều tốt lành. Bởi chính bà là người kiên quyết buộc con trai phải học nghề cơ khí. Vào năm 24 tuổi, Stronach bắt đầu sự nghiệp của mình khi mở xưởng sửa chữa xe hơi trong một ga-ra cũ ở Toronto. Đó cũng là nơi ăn, chốn ngủ của Stronach, nên xưởng này làm việc 24/24 giờ và vì thế khá đông khách. Theo thời gian, xưởng sửa chữa xe hơi chuyển thành xưởng sản xuất các linh kiện nhỏ cho xe hơi. Đến năm 1969, hãng Multimatic Investments của Stronach nhận được đơn đặt hàng khá lớn từ General Motors (GM) của Mỹ: 300 ngàn chiếc giá đỡ để gia cố gương (kính) chống nắng. Bên cạnh đó bắt đầu quá trình sáp nhập hãng Magna Electronics với Multimatic Investments. Đến năm 1973, Magna International chính thức được thành lập. Trong hàng chục năm trở lại đây, trải qua hàng loạt các cuộc sáp nhập, mua bán, Magna International trở thành tập đoàn có vị trí đáng kể trong ngành sản xuất xe hơi. Nhà văn Wayne Lilley, người viết tiểu sử của ông Stronach khẳng định trong cuốn Magna Cum Laude, 2006: “Với hơn 6 ngàn nhánh sản xuất, Magna là tập đoàn cung cấp linh kiện xe hơi lớn nhất thế giới”. Bí quyết thành công Sự thành công của Magna được các nhà chuyên môn đánh giá là nhờ hai cụm yếu tố chính. Cụm thứ nhất là Magna luôn luôn hoàn thiện kỹ thuật công nghệ và nó thể hiện chính sách của Stronach: “Chất lượng của sản phẩm và hướng đến thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Thêm vào đó là sự mềm dẻo trong chính sách giá với giá cả mà khách hàng chấp nhận được”. Slogan của tập đoàn Magna cũng thể hiện chính sách này: Sản phẩm tốt nhất với giá tốt nhất. Bên cạnh đó cũng phải kể đến việc luôn cải tiến, hoàn thiện mẫu mã các linh kiện và đề nghị sử dụng thử (miễn phí) chúng đối với người đặt hàng. Cụm yếu tố thứ hai là sự quan tâm đến con người. Tất cả các công nhân trong hãng của ông đều được sở hữu một lượng cổ phiếu nhất định. Nếu một công nhân có tay nghề giỏi bị hãng khác lôi kéo, hay muốn ra đi thì Stronach tìm mọi cách để đấu tranh đến cùng: đề nghị tăng lương, tăng lượng cổ phiếu cho người đó. Ông cho xây các sân tập thể thao, bể bơi, sân golf, nhà nghỉ, nhà trẻ dành cho các công nhân của mình. Ngược lại, Stronach cũng yêu cầu các cộng sự phải làm việc hết mình, trung thực và thực hiện tốt những gì mà ông đề ra. Tại các xí nghiệp của Magna không có tổ chức công đoàn. Stronach không thể chịu đựng các câu hỏi đại loại như, tại sao vẫn có hàng chục triệu USD chảy vào tài khoản của ông, khi mà ông không còn điều hành trực tiếp tập đoàn? Trong những trường hợp như thế, khi diễn ra đại hội cổ đông, Stronach thường thẳng thừng: “Nếu ai không thích như thế, thì không ai cản trở người đó bán cổ phiếu của mình”. Thậm chí ông còn sẵng giọng: “Khi nào tôi không thích cửa hàng ăn đó, thì tôi sẽ không ăn ở đó nữa”. Stronach là ông hoàng, là chúa tể. “Trong ông trộn lẫn các tính cách của một thiên tài và cả một chàng hề” - nhà văn Wayne Lilley đã nhận xét về ông như thế. Tuy vậy, điều đáng ngạc nhiên là ít có ai bỏ Stronach ra đi. Vào đầu những năm 1990, có lúc Magna đứng bên bờ vực phá sản, giá cổ phiếu xuống thấp mức kỷ lục: 2 USD. Nhưng đến năm 2005, cổ đông của Magna hết sức vui mừng, khi giá trị cổ phiếu của họ tăng gấp 50 lần. Vì điều này mà họ có thể tha thứ cho các chuyện khó chịu từ người sếp của mình - Frank Stronach. Thước đo hạnh phúc Là người nhiệt huyết, đầy sức cuốn hút, khó ai có thể kiểm soát nổi và chính vì thế Stronach cũng phạm không ít sai lầm. Có lần người ta tặng Stronach một con ngựa đua và ông đắm chìm trong thế giới mới lạ này. Ông tìm mua tại Mỹ và Canada các giống ngựa tốt và lai giống chúng. Để làm việc này, Stronach thành lập riêng hãng Entertainment Corp., do con trai của ông là Andrew đứng đầu. Entertainment Corp., và Stronach nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc đua ngựa, nhưng về khía cạnh kinh tế đó lại là thất bại. Hàng chục triệu USD đã đi tong vì thú chơi này và kết quả là vào tháng 3.2009, Entertainment Corp., tuyên bố phá sản. Hay vào năm 1999, Stronach đầu tư vào CLB bóng đá Austria của thành Vienne. Hàng “núi” tiền được dốc vào CLB này, nhưng trong vòng 6 năm Austria chỉ vô địch giải quốc gia 2 lần. Thất vọng và chán nản, năm 2005 Stronach giã từ lĩnh vực thể thao chuyên nghiệp. Đó là chưa kể thua lỗ khi Stronach muốn thành lập mạng lưới nhà hàng cũng như xuất bản tạp chí giấy láng Vista. Trước đó, vào năm 1988, ông còn có tham vọng chính trị, nhưng đã thất bại khi ra tranh cử vào Quốc hội Canada. Dù không phải là người toàn bích, nhưng trong lĩnh vực xe hơi, Stronach là người đáng kính. Khi hãng Opel của Đức lụn bại do hãng mẹ GM phá sản, thì Stronach là người tin rằng mình có thể giúp hãng này làm ăn có lời. Cách nay 2 tuần, GM nhận được 3 hồ sơ xin đấu thầu Opel từ Magna, hãng RHJ của Bỉ và tập đoàn chế tạo xe hơi BAIC của Trung Quốc. Nhưng dường như Chính phủ Đức (đã đồng ý tài trợ 1,4 tỉ euro cho Opel) sẽ chọn lựa Magna. Bên cạnh đó một ngân hàng Nga cũng đồng ý cho Stronach vay 500 triệu euro và theo kế hoạch của ông: Nga sẽ là thị trường chính của Opel khi hãng này phục hồi sản xuất. Ngoài ra, Magna của tỉ phú người Canada đang thiết kế và sản xuất hệ thống động cơ xe hơi điện cho hãng Ford. Ông đang muốn mua lại bản quyền toàn bộ dây chuyền sản xuất loại xe được cho là của thời đại mới này. Stronach tính rằng, sau 6 năm nữa, xe hơi điện sẽ chiếm 15% thị trường xe hơi và đến năm 2020 sẽ tăng lên 30%. Tập đoàn Magna của ông nhiều khả năng sẽ là nhà sản xuất xe hơi không chạy bằng xăng lớn nhất thế giới. Giống như một ông hoàng, Stronach muốn xây dựng tượng đài cho mình sau khi giã từ cuộc đời. Đó là đế chế sản xuất xe hơi do chính ông tạo dựng. Đam mê kiếm tiền và giỏi làm ra tiền, thế nhưng ông lại luôn nói rằng: “Thành công trong cuộc sống chỉ có một thước đo – đó là cấp độ hạnh phúc mà bạn đạt được”. Stronach hạnh phúc, nhưng trong lúc này đó là hạnh phúc chưa trọn vẹn.
- Theo Thanh niên tuần san.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
|
974_1308218061_Harland-Sanders-_3069_678_s.jpg
Không sợ thất bại
Sanders cũng gặp những khó khăn về tài chính giống như bất kỳ ai khác khi lần đầu tiên xây dựng KFC. Ông nói: "Một trong những khó khăn lớn nhất của chúng tôi khi khởi nghiệp chính là vấn đề tài chính". Hầu như phải bán hết tài sản trong một cuộc đấu giá, Sanders chẳng có gì ngoài tấm séc 105 đô la mỗi tháng từ trợ cấp xã hội.
"Chừng đó dùng để trả tiền xăng và tiền đi lại cần để bắt đầu kinh doanh". Ông kể: "Rất nhiều đêm tôi ngủ ở trên xe để có thể có đủ tiền mua nồi nấu cho ngày tiếp theo nếu như ai đó mua công thức của tôi". Không sinh ra trong một gia đình giàu có, thực tế, phần lớn tuổi thơ Sanders sống và làm việc một mình, cố gắng tự lo cho bản thân mình. Đó chính là thái độ sống góp phần làm cho KFC nổi tiếng sau này. Không sợ thất bại "Bạn phải thích công việc của bạn. Bạn phải thích điều bạn đang làm, bạn phải làm những việc có giá trị để bạn có thể thích nó vì giá trị của nó, và điều đó sẽ tạo ra sự khác biệt, bạn có thấy không?" - Sanders nói. Sanders yêu công việc của mình. Sự đam mê và lòng kiên trì đã giúp ông tiếp tục dấn bước ngay cả khi ông thất bại không chỉ một lần, hai lần, mà là nhiều hơn ba lần trong việc kinh doanh. Trong chuyến đi dọc đất nước, Sanders đã bị từ chối 1009 lần. Ban đầu, chỉ một số ít ông chủ nhà hàng thấy họ có lợi nếu mua công thức mà Sanders đang bán. Dave Thomas, sau này là người lập ra Wendy - chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh chuyên về bánh hamburgers, là một trong những khách hàng đầu tiên của Sanders. Nhưng không phải dễ dàng mà Sanders có được mối quan hệ làm ăn đó. "Lúc đầu, tôi rất băn khoăn về việc tại sao chúng tôi lại mất tiền cho một ông già như thế". Tuy nhiên, lòng đam mê và sự kiên định của Sanders đã thuyết phục được Thomas và hàng trăm cơ sở kinh doanh khác. Dường như kể từ khi bắt tay vào kinh doanh món gà rán, Sanders chẳng còn đam mê với điều gì khác nữa. Ông không bao giờ chơi golf, không bao giờ chơi quần vợt. Chẳng có sở thích nào khác ngoài kinh doanh đồ ăn nhanh có thể lôi cuốn được ông. Sự đam mê và cống hiến của Sanders là một nguồn động viên lớn đối với toàn bộ đội ngũ nhân viên của KFC. Niềm đam mê của Sanders đối với sản phẩm đã truyền cảm hứng cho toàn bộ công ty. Một ông chủ cửa hàng từng nói: "Nếu mỗi năm tôi không mở một cửa hàng mới, tôi sẽ cảm thấy tôi đang bị Sanders nhấn chìm". Thiết lập tiêu chuẩn cao Sanders là một người tỉ mỉ và thể hiện điều đó trong mọi việc ông làm. Ông biết rằng đồ ăn ngon và việc tiếp thị có thể là không đủ với khách hàng. Ông cũng đảm bảo rằng mỗi cửa hàng đều duy trì tiêu chuẩn cao nhất về độ sạch sẽ và phục vụ khách hàng tốt nhất. Ông nhận thức được rằng, cho dù món gà rán trông có hấp dẫn như thế nào đi nữa, nhưng nếu khách hàng biết nó được chế biến từ một con gà không sạch, thì họ sẽ vẫn bỏ đi. Vì thế Sanders cố gắng làm cho món gà của mình sạch nhất có thể. Mọi thứ được sơn trắng để bất kỳ vết bẩn nào cũng bị phát hiện và xử lý ngay lập tức. Ông cũng là một trong những người kinh doanh nhà hàng đầu tiên đặt các lỗ giữa tường nhà bếp và phòng ăn để cho khách hàng nhìn thấy bếp và thấy các món ăn được chuẩn bị như thế nào. Khuôn mặt luôn mỉm cười của Sanders ở các tấm logo tại các cửa hàng KFC có thể làm nhiều khách hàng yêu mến, nhưng có một "khuôn mặt" khác mà chỉ nhân viên và đồng nghiệp của ông mới biết, đó là một Sanders rất cầu toàn. Ông thường có những chuyến ghé thăm bất ngờ tới các cơ sở để xem xét việc chế biến món gà. Không chỉ kiểm tra về độ sạch, mà ông còn để ý nếu thấy nhân viên nấu không đúng công thức, ông sẽ không ngại nhắc nhở. Với Sanders, thái độ phục vụ, chất lượng và độ sạch là những ưu tiên hàng đầu với bất kỳ cơ sở nào. Ông muốn mọi thứ phải được thực hiện đúng cách. Dù đó đơn thuần là việc lau sàn hay chỉ cho người đầu bếp cách chuẩn bị nước sốt đặc biệt, không có việc gì trong một nhà hàng mà Sanders không sẵn sàng làm. Đó cũng là lí do mà cho dù trời mưa hay tuyết rơi, Sanders cũng vẫn có mặt cùng với nhân viên trong ngày khai trương cửa hàng. Ông không chỉ muốn chào đón những khách hàng đầu tiên và quảng bá về sản phẩm, mà còn muốn có mặt ở đó và biết chắc rằng mọi thứ đều đạt được tiêu chuẩn làm ông thỏa mãn. Không chỉ quan tâm đến món gà, Sanders còn quan tâm đến các món ăn khác. Như vợ ông từng nói: "Đôi khi chỉ một miếng bánh nướng, một món thịt hoặc rau chế biến không đúng cách, ông cũng chỉ cho họ cách làm đúng. Ông muốn nhà hàng chuyên phục vụ món gà của mình phải có được những món ăn ngon". Sự chú ý của Sanders tới từng chi tiết đã khiến ông thu hút được số lượng khách hàng trung thành đáng kể. Họ biết rằng Sanders là đại diện cho một thương hiệu mà họ có thể tin cậy hoàn toàn.
- Theo tổng hợp từ doanhnhan.asia
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
982_1308217721_Nouriel-Roubini-_3079_765_s.jpg
Người gây sốc thế giới
Năm 2008, khi cả thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng tồi tệ người ta mới nhớ rằng cách đó hai năm có một nhà kinh tế dự báo về cuộc khủng hoảng này nhưng cả thế giới đã làm ngơ và thậm chí còn cười ông. Đó là Nouriel Roubini - một nhà kinh tế Mỹ gốc Iran.
Giờ đây thì hình như tháng nào các diễn đàn kinh tế, các thể chế tài chính thế giới cũng như của nước Mỹ đều mời ông nói chuyện hoặc đưa ra những dự báo mới. Tiếp tục những dự báo làm sốc cả thế giới Tờ Wall Street Journal số ra tuần trước cho biết hiện Chính phủ Mỹ và các nhà hoạch định chính sách đang nghiêm túc xem xét những dự báo và đề nghị của ông nhằm vượt qua cuộc khủng hoảng. Dự báo mới nhất về kinh tế thế giới của ông cũng đang tiếp tục làm sốc cả hành tinh. Ông nhận định cuộc suy thoái này sẽ kéo dài 24 - 36 tháng và kinh tế Mỹ sẽ chỉ phục hồi theo hình chữ L (khi nền kinh tế rơi xuống đến đáy thì sẽ đứng lại và giữ mức đó trong thời gian dài chứ không đi lên), giống như Nhật Bản từng trải qua trong thập kỷ 1990. Nhìn vào bức tranh kinh tế toàn cầu, ông viết: "Khi nền kinh tế Mỹ bị nhấn chìm, nền kinh tế toàn cầu sẽ suy thoái. Châu Âu, Nhật Bản, Canada và các nền kinh tế phát triển khác sẽ rất gay go. Không một nền kinh tế mới nổi nào liên quan đến thế giới phát triển trong các lĩnh vực trao đổi hàng hóa, tài chính và tiền tệ có thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng này". Trên tạp chí Foreign Policy số ra tháng 1 và 2/209, ông viết: "Chúng ta cũng chỉ mới ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng. Năm nay (2009) sẽ là một năm "đau đớn", và chỉ có những hành động thật năng nổ, phối hợp toàn diện và hiệu quả mới có thể giúp năm 210 không tệ hơn năm 2009". Để giải qyết vấn đề nợ ngân hàng, ông đề nghị Chính phủ Mỹ phải lựa chọn ưu tiên theo thứ tự nguy cấp trong số những ngân hàng không đủ tiền mặt và ngân hàng không được cấp đủ vốn nhưng có khả năng thanh toán với những ngân hàng mất khả năng thanh toán hoàn toàn. Ông cũng đề nghị đóng cửa lập tức những ngân hàng vỡ nợ. "Chúng ta đang trong một nền kinh tế có chiến tranh. Chính phủ cần phải áp dụng nền kinh tê chỉ huy để điều tiết tín dụng nhằm thực hiện một nền kinh tế hiện thực. Những gì chính phủ làm là chưa đủ". Nouriel Roubini là ai? Các nhà kinh tế gọi ông là nhà dự báo kinh tế thế giới, có người ví von ông là "cánh chim báo bão". Trước năm 2006 rất ít người biết đến tên tuổi của ông. Tháng 1/2006 tại Diễn đàn kinh tế Davos, sau đó tại trụ sở Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ông dự báo một cuộc khủng hoảng kinh tế sắp nổ ra do những người vay ngân hàng để mua nhà không có tiền trả nợ, sẽ bùng nổ cuộc khủng hoảng tín dụng và nhà đất ở Mỹ dẫn đến sự suy thoái toàn cầu. Tháng 9/2006, ông nhận thấy rõ ràng kết cục của những bong bóng bất động sản: "Khi cung tăng, giá sẽ giảm, đó là điều hiển nhiên xảy ra trong vòng 110 năm qua kể từ năm 1890. Nhưng vào năm 2006, giá nhà đất tăng 90% và không theo bất cứ quy luật kinh tế nào cả: lợi nhuận thực tế, sự di chuyển, lãi suất ngân hàng, nhân khẩu học. Điều đó có nghĩa đang có một tình trạng bong bóng đầu cơ. Và bây giờ quả bóng đó đang xì hơi". Khi được hỏi cuộc khủng hoảng bất động sản đã qua chưa, ông Roubini trả lời: "Nó không chỉ chưa kết thúc mà còn đang rơi tự do". Vào thời điểm đó ông chỉ nhận được những lời nhạo báng vì kinh tế Mỹ đang ổn định. Đến năm 2008, tất cả những dự báo của ông trở thành hiện thực và cuối tháng 1/2009, Nouriel Roubini trở lại Diễn đàn kinh tế Davos ở Thụy Sĩ như là nhà tiên tri của cuộc khủng hoảng kinh tế và được chào đón như một người có tài năng xuất chúng. Một số báo chí hơi cường điệu khả năng của ông: người có con mắt nhìn xuyên thế kỷ. Nhưng Roubini cho biết ông dự báo được tình hình kinh tế thông qua những nghiên cứu hoạt động của giới tài chính Mỹ, đặc biệt ở phố Wall và hệ thống tài chính cũng như trao đổi thương mại toàn cầu. Rubini vẫn đang rất bi quan về nền kinh tế Mỹ và nền kinh tế toàn cầu. Rounibi sinh ra ở Iran, lớn lên ở Thổ Nhĩ Kỳ, Israel và Ý, sang Mỹ học ĐH Harvard. Hiện ông là giáo sư kinh tế tại phân viện kinh tế thuộc ĐH New York và là chủ tịch Công ty RGE Monitor, một công ty tư vấn tài chính. Ông bắt đầu nghiên cứu về kinh tế và hoạch định chính sách từ khi dạy ở ĐH Yale và làm việc tại IMF, WB, Bank of Israel cũng như Quỹ Dữ trữ liên bang Mỹ. Trong nhiệm kỳ của chính phủ Bill Clinton, Roubini là thành viên hội đồng cố vấn kinh tế, sau đó chuyển về Bộ Tài chính làm cố vấn cho Timothy Geithner, người hiện nay là bộ trưởng tài chính Mỹ.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
996_1308217644_Steve-Jobs_3084_433_s.jpg
CEO của thập kỷ Tỷ phú Steve Jobs không còn trẻ, nhưng có quá nhiều người trẻ "say mê" ông cũng như những sản phẩm mà "quả táo cắn dở" của ông tung ra trên thế giới. Chẳng ngoa khi người ta đã xưng tụng về một "thời đại" của doanh nhân hàng đầu này. CEO của Thập kỷNhững thành tích xuất sắc luôn gắn liền với Steve Jobs kể từ khi ông còn là một chàng trai trẻ. Giờ đây ông đã 54 tuổi, chỉ danh mục những thành tích ông đạt được cũng đủ để giải thích tại sao ông vừa được tạp chí Fortune bình chọn là CEO của Thập kỷ (mặc dù ông vẫn tiếp tục tiến bước trên con đường của mình). Trong vòng 10 năm qua, ông đã tái thiết lập trật tự căn bản của ba thị trường: âm nhạc, điện ảnh, điện thoại di động, và tầm ảnh hưởng tới lĩnh vực gốc của ông- ngành máy tính, vẫn tiếp tục lớn mạnh. Với Steve Jobs, có thể người tiêu dùng không bao giờ để mắt tới bản báo cáo thường niên hoặc thậm chí là tờ tạp chí kinh doanh nhưng lại có thể nói rất nhiều về thị hiếu thiết kết của ông, các cửa hàng bán lẻ tao nhã của Apple và cách thức quảng cáo "hút hồn" của "Quả táo". Cũng chính vì thế mà ông nổi tiếng như một "ông bầu", một tài năng bán hàng bẩm sinh, một nhà ảo thuật, một người cầu toàn chuyên quyền. Tất nhiên những mô tả đó hoàn toàn chính xác và những mô tả này đóng góp vào câu chuyện huyền thoại của ông. Tất cả công việc ông làm với người viết bài quảng cáo, các nhà thiết kế và các nhà soạn nhạc đều không mắc sai lầm bởi Jobs luôn toàn tâm toàn ý với công việc kinh doanh. Ông có thể không quan tâm tới việc nghiên cứu khách hàng, nhưng ông sẵn sàng làm việc một cách "điên rồ" để tạo ra sản phẩm mà khách hàng sẽ mua. Ông là một người nhìn xa trông rộng, nhưng ông cũng biết cách đặt nền móng đề biến ước mơ thành hiện thực, giám sát chặt chẽ hoạt động của Apple và các nguyên tắc hoạt động của thị trường. Larry Ellison - CEO của Orcacle - một người bạn của ông, cho rằng: Ông không lấy đồng tiền làm động cơ hoạt động kinh doanh. Thay vào đó, động cơ giúp ông xây dựng lên Apple - mối tình đầu của ông - chính là nhuệ khí có tính bản năng. Các kết quả tài chính chẳng có gì đáng kinh ngạc cả - đối với cả Apple và đối với Jobs. Năm 2000 trị giá của Apple đạt khoảng 5 tỉ đô la, chỉ ngay trước khi Jobs tung ra chiến lược "phong cách sống kỹ thuật số". Ngày nay, với trị giá khoảng 170 triệu đô la, Apple được định giá lớn hơn Google một chút. "Thập kỷ" của Steve thực sự đã bắt đầu từ năm 1997, khi ông quay trở lại Apple sau khi bị trục xuất khỏi công ty 12 năm trước đó. Đó là một năm của mức đầu tư khiêm tốn từ Microsoft, năm giảm bớt dòng sản phẩm của Apple xuống mức tối thiểu chỉ còn bốn dòng sản phẩm. Jobs đã biến đổi Apple như thế nào? Việc đầu tiên là Jobs đã hoàn thành quá trình tuyển dụng một đội ngũ quản lý mới, gồm một số nhà quản lý từ các công ty trước của ông. Những nhà quản lý hàng đầu này hình thành nên hạt nhân bộ tham mưu của Jobs trong gần 10 năm. Ngay sau khi trở lại, sản phẩm đầu tiên ông tung ra là Macintosh, dòng máy tính iMac thuộc dạng "tất cả - trong - một" đã mang đến đột phá cho Apple, giúp doanh thu của hãng ổn định trở lại. Thành công của dòng máy tính đắt tiền iMac, cùng với việc cắt giảm chi phí quyết liệt, đã giúp Jobs xây dựng được một bước đệm tiền mặt vững chắc. Qua việc hồi phục bảng cân đối kế toán của Apple, ông đã chuẩn bị để công ty sẵn sàng đón nhận những khoản đầu tư lớn, một động thái kinh doanh khôn ngoan hiếm có. Jobs đã tạo dựng nền tảng vững chắc cho bước nhảy của Apple khi mọi thứ dường như đang trong giai đoạn đen tối nhất. Năm 2000, Apple đã không đạt được các mục tiêu tài chính của hãng trong bản thông báo doanh thu tháng 9, khiến cho giá cổ phiếu của hãng sụt giảm nghiêm trọng trong những tháng tiếp theo, chỉ còn tương đương với 7 đô la theo giá hiện thời. Tuy vậy, vào thời điểm đó, Jobs đã lên kế hoạch sắp xếp những nhân tố căn bản để trẻ hóa Apple. Trong suốt giai đoạn năm 2001, khi thị trường toàn cầu tụt dốc và thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, Apple đã tung ra thị trường phần mềm âm nhạc iTunes (trong tháng 1), hệ điều hành Mac OS X (tháng 3), những cửa hàng bán lẻ Apple đầu tiên (tháng 5), và chiếc iPod đầu tiên (tháng 11) và mô hình 5GB mà Apple quảng cáo là có sức chứa tới 1,000 bài hát. Thị trường đã không kịp thời nắm bắt tầm quan trọng của những sự kiện trên. iTunes chỉ là phần mềm chơi nhạc nhúng vào Macs và thiếu cửa hàng trực tuyến bán nhạc. Hệ điều hành mới, mặc dù rất ấn tượng, chỉ đóng vai trò là sản phẩm ngách. Do giá cổ phiếu của công ty sụt giảm nghiêm trọng, các tin đồn về việc Apple bị mua lại đã xuất hiện ở khắp nơi. Điều chưa bao giờ được thông báo một cách chính thức đó là việc Jobs đã nhờ sự trợ giúp của tập đoàn mua lại mới thành lập là Silver Lake Partners. Thương vụ mua lại của Apple có lẽ sẽ là thương vụ của thập kỷ, nhưng cuối cùng Jobs đã dập tắt những tin đồn này. Đó thực sự là đề xuất nghiêm túc lần thứ hai về việc mua Apple. Trong năm 1997, một người bạn của Jobs là Ellison, sau này là một thành viên của Hội đồng quản trị Apple, đã lên kế hoạch tài chính mua lại công ty với giả định rằng Jobs sẽ tiếp tục điều hành công ty. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Ellison cho rằng Jobs đã không thích ý tưởng trở thành "người nói sau" nếu có vẻ như ông trở lại chỉ đơn giản để kiếm tiền. Ellison cho biết: "Ông ấy đã giải thích cho tôi rằng với nền tảng đạo đức vững chắc, ông nghĩ rằng ông có thể đưa ra những quyết định dễ dàng hơn và trang nhã hơn". Với những ai quan tâm tới công ty sau sự trở lại của Jobs thì vị CEO chính là người đã chỉ thị đường đi nước bước của Apple. Đầu năm 2002, trong một cuộc phỏng vấn với Time, Jobs cho biết: "Tôi thà cạnh tranh với Sony còn hơn cạnh tranh với Microsoft trong danh mục sản phẩm khác. Chúng tôi chỉ là công ty sử hữu phần mềm, phần cứng,và hệ điều hành. Chúng tôi có thể hoàn toàn chịu trách nhiệm về trải nghiệm của người sử dụng. Chúng tôi có thể làm những thứ mà người khác không thể làm được". Jobs tin rằng người sử dụng sẽ quay trở lại với Apple, nhưng chỉ khi ông có thể nói trực tiếp với họ - và không chỉ là với những người sử dụng Macintosh trung thành, một câu lạc bộ bao gồm phần lớn là những nghệ sĩ và sinh viên. Chiến lược xây dựng các cửa hàng bản lẻ thuộc quyền sở hữu của công ty, là một phần không thể thiếu của Apple ngày nay, đã bị chế nhạo tại thời điểm đó khi công ty đang lâm vào tình trạng khan hiếm nguồn tiền mặt. Bill Campbell - cựu quản lý của Apple, người sau này trở thành chủ tịch hội đồng quản trị của Intuit và là một thành viên của hội đồng quản trị Apple - cho rằng: "Ông đã thực hiện chiến lược này cùng một hội đồng quản trị đầy mối quan ngại. Ông biết rằng đó chính là thứ khách hàng mong muốn". Điều đáng chú ý nhất khi nhìn lại đó là số lượng sản phẩm bán ở các cửa hàng Apple gốc ít như thế nào. Jobs biết làm cách lấp đầy cửa hàng bằng rất nhiều các dòng sản phẩm khác. Jobs cho rằng ông cần phải biết mọi thứ về Apple. Ông tham gia vào từng chi tiết mà nhiều khi bạn không nghĩ rằng một CEO cần phải biết chi tiết đến vậy. Phương châm hoạt động của Jobs là "nghĩ khác" trước khi bất kỳ sản phẩm mới nào được giới thiệu ra ngoài thị trường. Khả năng kết hợp hiếm hoi giữa quản lý vi mô với tầm nhìn xa trông rộng chính là sự khác biệt của Jobs với các nhà lãnh đạo khác. Ngay khi mới quay trở lại Apple, ông đã nhận ra rằng thiết kếbắt mắt, tinh tế chính là đặc điểm tạo sự khác biệt của Apple trong ngành công nghiệp máy tính vốn do Dell, Microsoft và Intel nắm giữ. CEO của công ty tư vấn thiết kế sản phẩm Ideo, Tim Brown đã viết trong cuốn sách mới của ông "Change by Design" (tạm dịch là Thay đổi bằng thiết kế) rằng: "Tôi không thể đếm được có bao nhiêu khách hàng bước chân vào và nói "cho tôi chiếc iPod tiếp theo". Jobs cũng có sở trường nắm bắt cơ hội vào đúng thời điểm. Ngành công nghiệp âm nhạc đã rất nhiều lần không thành công trong việc phát triển thị trường âm nhạc kỹ thuật số trước khi Apple tung ra sản phẩm iTunes - chính là dòng sản phẩm được chuẩn bị để trở thành cửa hàng bán âm nhạc. Bản thân Jobs cũng rất cẩn trọng tránh né việc bàn tán quá lâu về một sản phẩm chưa có thực, ông chỉ thích nói khi đã có sản phẩm trong tay, và sẽ sẵn sàng xúc tiến quảng cáo. Ông không tiết lộ về ca phẫu thuật ung thư năm 2004 của mình cho tới khi nó diễn ra, và chỉ được thông báo một cách chiến lược qua thư điện tử của một nhân viên. Tương tự như vậy, ông nói với thế giới về thời gian nghỉ phép gần đây của ông thông qua công văn của một nhân viên khác mà không thêm vào bất kỳ một bình luận nào từ phía ông hay từ bất kỳ ai ở Apple. Không một ai trong "đế chế" của Jobs nói mà không có sự cho phép của nhóm quan hệ công chúng của công ty, nhóm này luôn báo cáo công việc trực tiếp lên Jobs. Apple đã từ chối để Jobs tham gia một cuộc phỏng vấn về vấn đề này. Lúc đầu Jobs cũng giữ im lặng về vụ xì căng đan ghi lùi ngày quyền mua cổ phần có liên quan tới cả cựu giám đốc tài chính và luật sư của công ty. Jobs đã xin lỗi về vụ xì căng đan đình đám này và gọi sự việc này là "hoàn toàn không đúng với tính cách của Apple". Jobs quản lý tiền mặt, thông điệp, các thương vụ, thiết kế và hơn thế nữa. Xem xét một cách công bằng thì kẻ thích sống lập dị trong ngành công nghiệp máy tính này đã xây dựng một ngành kinh doanh đầy ấn tượng và công ty của ông là có một không hai. Sự việc ông bị ốm trong thời gian gần đây chính là lời nhắc nhở rằng Steve Jobs là bất diệt. Khi ông đi xa, công ty của ông sẽ thịnh vượng được bao lâu nữa? Tương lai của Apple Tháng chín năm nay, khi công chúng vui mừng đón nhận sự trở lại của Steve Jobs, ông đã gửi lời cảm ơn chính xác tới một nhà quản lý của Apple: Tim Cook, giám đốc điều hành của Apple. Trong một sự kiện giới thiệu dòng sản phẩm mới của iPods, Jobs trước hết đã thông báo với toàn thể nhà báo, các nhà phân tích và các nhà phát triển Apple rằng hiện tại ông đang sở hữu gan của một "người hiến tặng gan ngoài hai mươi tuổi đã chết trong một vụ tai nạn xe hơi.". Sau đó ông cảm ơn Cook và toàn thể đội quản lý vì đã "khéo léo" điều hành Apple khi ông vắng mặt. Đáp trả lại, Cook đã hoan nghênh nhiệt liệt Jobs. Với sự trở lại của Jobs, cuộc đàm luận bị trì hoãn ở việc liệu Cook hay bất kỳ ai đang chuẩn bị để thế chân Jobs. Ở Apple, hệ thống cấp bậc do Steve quyết định. Có rất nhiều giá trị trong "những gì Steve nói". Có những dấu hiệu cho thấy Jobs đã làm rất tốt công việc đào tạo để có một đội ngũ quản lý công ty đủ mạnh khi không có ông. Apple được đào tạo kỹ càng để có lối suy nghĩ như Steve. Đó là lý do tại sao sáu tháng qua công ty hoạt động rất tốt. Trong thực tế, Jobs không chỉ truyền cảm hứng làm việc cho các nhân viên trong Apple mà còn cả các công ty khác nữa. Nhà tư bản mạo hiểm Marc Andreesen, đồng sáng lập ra Netscape, cho biết ông thường nhớ tới Jobs về những lời khuyên của ông dành cho các doanh nhân. Ông thường tự hỏi mình: trở ngại khi tung ra sản phẩm đầu tiên là gì? Steve Jobs sẽ làm gì? Trong thập kỷ tiếp theo, Jobs có thể sẽ tự hỏi bản thân ông một biến thái của câu hỏi này: Sau khi tạo ra hơn 150 tỉ đô la tài sản cổ phần, biến đổi ngành công nghiệp điện ảnh, điện thoại, âm nhạc và máy tính, Steve Jobs sẽ làm gì tiếp theo? Với sở thích giữ bí mật và tạo sự ngạc nhiên cho mọi người và một tài năng xuất chúng như Steve, có lẽ chúng ta nên đợi ông nói cho chúng ta biết khi ông sẵn sàng.
Các "ngôi sao" nói gì về Steve Jobs
1. Andy Grove - Cựu chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của Intel: Khi nói về Steve, bạn cần phải phân biệt giữa Jobs 1 - chàng trai trẻ sáng lập ra Apple, và Jobs 2 – người “sáng lập” ra thời đại của mình 2. Andrea Jung - Chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của Avon: Tất cả chúng ta đều cần phải tập trung vào khách hàng và người tiêu dùng cuối cùng như cách mà Steve đã làm – đó là niềm đam mê điên cuồng để có được chiếc điện thoại tốt nhất, chiếc MP3 tốt nhất, máy tính cá nhân tốt nhất, kinh nghiệm bán lẻ tốt nhất. 3. Larry Ellison - Người đồng sáng lập và là CEO của Oracle: Tôi nhớ khi Steve còn là hàng xóm của tôi ở Woodside, California, và ông không có đồ đạc gì. Điều đó khiến tôi hiểu rằng không có đồ đạc gì là điều đủ tốt với Steve trên thế giới này. Ông thà không có gì nếu ông không thể có sự hoàn hảo. 4. Marc Andreessen - General partner, Andreessen Horowitz: Khi Steve quay trở lại vào năm 1997, công ty đang trên bờ vực phá sản. Ông đã đi từ bờ vực phá sản để xây dựng lên những dòng sản phầm nổi tiếng ngày nay. 5. Bob Iger Một điều đáng chú ý về Steve đó là cách thức ông đặt kỳ vọng vào mọi người. Tôi đã làm việc cho Roone Arlegde trong 10 năm. Ông đòi hỏi sự hoàn hảo, không bao giờ chấp nhận những việc tầm thường, xoàng xĩnh. Steve cũng vậy. Tôi thấy điều này trong cách ông quản lý nhân viên của ông. Ông đặt kỳ vọng cho chất lượng, thách thức cho hiện trạng – và không bao giờ chấp nhận câu trả lời không. 6. Ralph de la Vega - Chủ tịch kiêm CEO của AT&T: Khi lần đầu tiên nhìn thấy chiếc iPhone, mặc dù nó chưa hoàn chỉnh, tôi đã bị kinh ngạc trước thứ Steve có thể đặt vào thiết bị đó. 7. Jimmy Iovine - Người sáng lập và chủ tịch hội đồng quản trị của Interscope Records: Bất kể mọi người nói gì về Apple, nều đó không phải là về Steve Jobs thì sẽ không có cửa hàng âm nhạc trực tuyến chính thống. 8. Bill Campbell - Chủ tịch hội đồng quản trị và cựu CEO của Intuit: Điều lớn lao nhất mà tôi học từ ông đó là quan sát cách thức ông tuyển dụng. Ông là một phỏng vấn viên xuất sắc. Ông hiểu thứ ông muốn, và ông biết làm thế nào để có được những người tài năng. Và nếu bạn quan sát đội quản lý của ông sau 12 năm, một số người vẫn làm việc cho ông, một số người đã ra đi, nhưng dù ở bất kỳ vị trí nào, bạn đều thấy họ là một người quản lý chất lượng cao. |
1004_1308217431_Mark-Zuckerberg-_3095_253_s.jpg
CEO Facebook
Sinh năm 1984 trong một gia đình Mỹ gốc Do Thái có cha là bác sĩ nha khoa và mẹ là nhà tâm lý học, nhưng chàng trai Mark Zuckerberg lại có niềm đam mê công nghệ mãnh liệt. Chính điều này đã đưa “chàng trai vàng” trong ngành công nghệ thông tin đi đến thành công như ngày hôm nay. Từ những thử nghiệm ban đầu
Mark Zuckerberg bắt đầu tự học lập trình máy tính khi vẫn còn là một cậu bé học sinh cấp hai. Cậu bé Mark lúc đó thực sự quan tâm tới việc phát triển, nâng cấp những chương trình máy tính đặc biệt là những công cụ giao tiếp trên mạng và các trò chơi (game). Khi bước vào Trường phổ thông Phillips Exeter, Mark đã xây dựng được chương trình có tính ứng dụng cao như chương trình để giúp những người công nhân làm việc trong văn phòng của cha mình giao tiếp được với nhau, phiên bản game “Risk” và chương trình nghe nhạc Synapse. Những sáng tạo bước đầu của Mark đã gây được sự chú ý của giới công nghệ thông tin ở Mỹ lúc bấy giờ, trong đó có Microsoft và American Online (AOL). Cả hai tập đoàn lớn này đều cố gắng thuyết phục để mua được bản quyền chương trình Synapse và muốn Mark về làm việc cho mình song Mark lại quyết định theo học ở Đại học Harvard. Đến năm 2002, Mark bắt đầu bước chân vào giảng đường của trường Đại học Harvard, một trường đại học uy tín hàng đầu của Mỹ. Tại đây, anh đã thực hiện nhiều dự án về công nghệ ưa thích. Mark thực hiện đề án Coursematch cho phép các sinh viên tham gia có thể xem danh sách những sinh viên khác cùng đăng ký học chung môn học với mình. Dự án này cũng được khá nhiều sinh viên trong trường hưởng ứng. Ngày 4/2/2004, chỉ 2 năm sau đó, Mark cho ra đời Facebook mà theo Mark đánh giá lúc bấy giờ chỉ là một dự án để kỷ niệm thời gian học ở đây với tên gọi “Harvard-Thing”. Thật ra ý tưởng này của Mark được xuất phát từ hồi anh còn học trong trường trung học Phillips Exeter, chương trình cho phép người truy cập có thể tìm hiểu thông tin về các sinh viên, ngành học, giảng viên... Chỉ sau 4 tiếng đồng hồ, có 450 lượt truy cập và nhà trường lập tức cắt đứt kết nối mạng Internet của Mark, đồng thời khiển trách cậu về tội xâm phạm an ninh mạng máy tính của trường, lấy cắp thông tin để post lên website của mình. Nhận lỗi lầm và không nản chí, Mark tiếp tục nghiên cứu và nâng cấp Facebook theo nguyên tắc thông tin trên website phải được sự đồng ý của cá nhân hay tổ chức và nhiều dự án kế tiếp. Mark Zuckerberg từng thừa nhận chính chủ nhân Microsoft, tỷ phú Bill Gates là nguồn cảm hứng khiến cậu rời trường danh tiếng Harvard để thực hiện ước mơ của mình. Mọi chuyện bắt đầu khi năm 2004, Bill Gates đến Harvard để nói chuyện với các sinh viên. Lúc đó, Bill Gates đã khuyến khích các sinh viên thực hiện dự án nào đó mà mình đam mê, thậm chí tạm ngưng việc học để theo đuổi ước mơ của mình như ông đã từng làm. Thế là Mark và người bạn cùng học Moskovitz quyết định rời Harvard đến Thung lũng Silicon, bang California để toàn tâm toàn ý cho Facebook. Tới thành công với Facebook Mark Zuckerberg chuyển tới Palo Alto, California với Moskovitz và vài người bạn khác. Họ thuê một căn nhà nhỏ vừa sống và làm văn phòng. Vào mùa hè năm 2004, Mark đã gặp Peter Thiel, người đã đầu tư vào công ty của Mark. Vậy là anh cũng có được văn phòng làm việc đầu tiên đúng nghĩa trong cả mùa hè năm nay. Mark đã từng tâm sự, trong giai đoạn khó khăn này, nhóm đã có ý định quay trở lại Harvard vào mùa thu năm đó nhưng cuối cùng nhóm vẫn ở California. Và cho tới tận bây giờ, anh vẫn chưa trở lại trường để hoàn thành nốt chương trình đại học. Facebook phát triển nhanh chóng. Số thành viên lên tới khoảng 60 triệu người và dự kiến sẽ lên tới con số 70 triệu vào cuối năm nay. Facebook là trang web về hình ảnh số một ở Mỹ với hơn 8,5 triệu tấm ảnh được đưa lên mạng mỗi ngày. Có được điều này là nhờ Mark Zuckerberg và nhóm bạn của mình liên tục nâng cấp Facebook tạo thuận lợi cho người sử dụng. Ngày 5/6/2006, Facebook cho ra mắt công cụ News Feed cho phép người truy cập có thể nhận biết bạn bè của mình đang làm gì trên trang web này. Đến ngày 24/5/2007, Mark tuyên bố về Facebook Platform, một chương trình nền tảng để phát triển các ứng dụng xã hội, trong đó có mạng kết nỗi xã hội Facebook. Tuyên bố này thực sự đã tạo được hưng phấn cũng như hứng thú cho nhóm của Mark. Chỉ trong vài tuần, hàng loạt ứng dụng đã được xây dựng và một vài trong số đó đã có hàng triệu người sử dụng. Cho đến nay, có tới hơn 400.000 người am hiểu về viết chương trình máy tính trên toàn thế giới tham gia vào công việc xây dựng những ứng dụng này cho Facebook Platform. Chỉ 1 tháng sau đó, ngày 11/6/2007, Mark công bố về hệ thống quảng cáo xã hội ở Los Angeles. Một phần của chương trình Facebook Beacon sẽ cho phép mọi người chia sẻ thông tin với mạng lưới những người bạn trên Facebook thông qua những hoạt động trên các website khác. Chẳng hạn, một người giao bán trên eBay cũng có thể được nhóm bạn trên Facebook biết được hoạt động này thông qua News Feed. Vào ngày 23/7/2008, Mark tiếp tục công bố về Facebook Connect, một phiên bản của Facebook Platform trong việc xây dựng các ứng dụng xã hội trên các website khác. Trước sự phát triển chóng mặt của Facebook, một số đại gia trong ngành công nghệ thông tin trong đó có Yahoo, Viacom đã tìm cách thương lượng mua lại công ty này. Năm 2006, Giám đốc điều hành Yahoo là Terry Semel đã đánh tiếng mua Facebook với giá 1 tỉ USD nhưng Mark Zuckerberg và nhóm của mình không màng đến. Con số đó trở nên nhỏ nhoi khi ngày 24/10/2007, Microsoft đã chi 240 triệu USD để mua lại 1,6% cổ phần của Facebook. Zuckerberg cùng toàn thể nhân viên Facebook hẳn phải hàm ơn Bill Gates vì như vậy, giá thị trường của Facebook lên tới 15 tỉ USD bởi theo nhiều chuyên gia giá thị trường thực tế của Facebook Inc (Công ty của Mark sáng lập) thấp hơn nhiều. Trong vai trò giám đốc điều hành CEO của Facebook, Zuckerberg sở hữu 20% cổ phiếu công ty và trên lý thuyết, nếu bán hết số cổ phiếu của mình, anh chàng 23 tuổi này đã có trong tay 3 tỉ USD. Giá trị của Facebook cứ tăng dần theo số lượng người sử dụng đông lên mỗi ngày mà một số chuyên gia cho rằng, tài sản của chàng trai trẻ Zuckerberg không chỉ 3 tỉ mà có thể lên đến 5 tỉ USD tùy thuộc vào sự thành công tới đây của Facebook trong việc xây dựng mạng lưới quảng cáo. Cũng trong năm này, Mark Zuckerberg vinh dự nhận giải thưởng Best Startup CEO của Crunchie Award 2007. Ước muốn trở lại Harvard Cách đây 5 năm, khi mới chân ướt chân ráo tới California, Mark lập nghiệp với 2 bàn tay trắng: không tiền, không nhà cửa, không xe hơi... Giờ đây khi đã trở thành CEO của Facebook Inc, anh vẫn thích mặc quần jeans, đi xăng đan Adidas và có cuộc sống khá kín đáo. Trong cuộc họp báo về vụ đầu tư của Microsoft, Mark Zuckerberg thậm chí cũng không tham dự mà để công việc lại cho những quan chức điều hành khác của Facebook. Điều này cũng dễ hiểu bởi trong một cuộc trả lời phỏng vấn tạp chí Forbes, Mark thổ lộ rằng anh không quan tâm tới việc liệu mình có trở thành CEO hay quản lý công ty hay không mà điều anh thực sự quan tâm đó là được làm những gì mình đam mê và tạo ra thứ gì thật hấp dẫn. Mark vẫn sống trong một căn phòng thuê mà đồ đạc khá đơn giản và hàng ngày anh vẫn đạp xe đạp hoặc đi bộ đến tổng hành dinh Facebook gần căn hộ của mình. Thành công nhiều nhưng dĩ nhiên Mark Zuckerberg cũng bắt đầu gặp không ít thách thức. Một số bạn học của Mark ở Harvard (hiện điều hành website đối lập ConnectU) đã đệ đơn kiện anh ăn cắp ý tưởng lập website kết nối xã hội khi giúp họ thiết lập một dự án hồi năm 2003. Bên nguyên đơn - những người sáng lập website đối thủ ConnectU - buộc Zuckerberg tội vi phạm bản quyền, gian lận và ăn cắp bí mật thương mại, đồng thời yêu cầu đóng cửa Facebook. Facebook phản công bằng cách cáo buộc ConnectU đã xâm nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu để ăn cắp hàng ngàn địa chỉ e-mail trong nỗ lực dụ người sử dụng Facebook sang ConnectU. Ngoài vụ kiện, Mark Zuckerberg dự kiến sẽ đối mặt với nhiều sức ép sau vụ đầu tư của Microsoft. Điều này là khá dễ hiểu bởi khi có sự tham gia của tập đoàn đại gia này, các đối tác của Facebook sẽ khó có nhiều “chiêu” để thu được nhiều lợi ích hơn khi hợp tác. Hơn thế nữa, những hợp đồng quảng cáo trên Facebook có vẻ cũng bị hạn chế nhất định. Thành công hay thất bại thì Mark Zuckerberg cũng hài lòng với những trải nghiệm và thành quả thu được của mình trong mấy năm qua. Chưa có thống kê chính thức nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng, Zuckerberg là người giàu nhất nước Mỹ trong độ tuổi dưới 25. Anh chàng này còn được đem ra so sánh với Chủ tịch Bill Gates của Microsoft và Tổng giám đốc Steve Jobs của Apple. Anh đã đi một chặng đường dài và đôi lúc anh muốn nghỉ ngơi. Mark Zuckerberg cho biết anh sẽ xem xét đến việc quay lại Harvard để hoàn thành nốt chương trình đại học.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
|
1015_1308217399_Maurice-Hank-Greenbe_3096_429_s.jpg
Vị tướng quân tài ba của AIG Từ thiếu úy đến tướng quân
Sinh năm 1925 tại New York - Mỹ, 19 tuổi, Greenberg đã đổ bộ vào khắp các chiến trường ở châu Âu. Ở cái tuổi lãng mạn và đẹp đẽ ấy, các bạn đồng trang lứa còn đang ngồi trên ghế nhà trường và sống dưới sự bảo bọc của gia đình.Vậy mà, Greenberg đã có một ý chí sắt đá để đối mặt với bom đạn, với cái chết cận kề. Năm 1945, khi thế chiến thứ hai kết thúc, Greenberg trở về và học tại Trường Đại học Miami. Năm 1948, ông tốt nghiệp sơ cấp ngành pháp luật. Bất chấp những khó khăn gian khổ, sau khi tốt nghiệp, Greenberg tiếp tục xin tòng quân, tham gia vào cuộc chiến tranh mới. Và dường như khó khăn, gian khổ của chiến tranh đã hun đúc nên lòng dũng cảm, không ngại khó nơi ông. Trở về sau cuộc chiến tranh, Greenberg quyết định tìm một công việc để nuôi gia đình. Tình cờ đọc được thông tin tuyển dụng của một công ty bảo hiểm trên báo, ông tìm đến phỏng vấn. Nhưng công ty này đã từ chối không nhận ông vào làm. Những khó khăn ban đầu không thể đánh gục ý chí, niềm tin của Greenberg. Ông đã tìm đến một vị giám đốc cấp cao của Công ty bảo hiểm Continental để trình bày suy nghĩ của mình. Sự kiên trì, không ngại khó của ông đã được đền đáp khi ông được nhận vào Continental. Sau 8 năm làm việc tại đây, năm 1960, Greenberg đến đầu quân cho Công ty AIG. Bền bỉ, chịu khó cộng với óc tính toán nhanh nhạy, không lâu sau ông đã vươn lên vị trí lãnh đạo của AIG. 7 năm sau, ông được đề bạt vào chức Tổng Giám đốc, ở tuổi 42. Đây không chỉ là bước ngoặt trong cuộc đời Greenberg, mà còn mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của AIG. Nói cách khác, Greenberg đã thổi một luồng gió mới vào AIG, giúp công ty này nhanh chóng sải rộng cánh tay của mình ra thế giới. Phong cách lãnh đạo kiểu quân đội Lên lãnh đạo AIG, Greenberg đã mang những gì học hỏi được trong quân đội để áp dụng vào chiến lược quản lý. Thương trường như chiến trường, cơ hội và thách thức cũng cần phán đoán chỉ trong nháy mắt, nếu không nắm bắt được thời cơ thì sẽ thất bại. Và tất nhiên cũng cần một vị tướng quân giỏi để chỉ huy toàn bộ. Greenberg là vị tướng quân ấy. Ông được báo giới đánh giá là một vị tướng quân, một nhà lãnh đạo đầy nghiêm khắc nhưng cũng không kém hiền từ. Ông đã chỉ ra được mục tiêu cụ thể để cho toàn nhân viên tiến công. Greenberg giành sự tín nhiệm của toàn bộ nhân viên để mục tiêu đưa ra được thực hiện dễ dàng. Bởi hơn ai hết, ông hiểu rằng trong một đội quân lớn, tinh binh nhiều thì mỗi người đều có một chủ ý riêng, nếu không chú ý đến mục tiêu chung thì hậu quả thật khôn lường. Khi đã giành được sự tín nhiệm của binh sĩ thì mệnh lệnh phát ra, nhất thiết phải thực hiện nghiêm ngặt. Cách quản quân luật đã mang lại hiệu quả lớn cho AIG. Và nó cũng lý giải cho câu hỏi tại sao AIG có thể phát triển mạnh ở 130 quốc gia trên thế giới? Cách quản lý của Greenberg khiến tướng quân Eisenhowr, vị tướng quân nổi tiếng của Mỹ phải thốt lên rằng: “Công việc của người lãnh đạo không phải là đẩy một cái vali mà là biết nhìn phương hướng, sau đó lôi kéo tất cả mọi người đi theo hướng đó một cách hiệu quả nhất. Greenberg không thể cùng lúc đẩy 130 cái vali, mà ông cẩn thận tuyển những người có năng lực, chỉ cho họ phương hướng để họ đẩy giúp ông”. Tuy nhiên, cách quản lý tập trung của Greenberg không phải là độc tài. Ông luôn tạo cho nhân viên có một động lực để đề xuất cách nghĩ, cách làm mới nhằm duy trì sự thịnh vượng lâu dài của AIG. Điều này khiến AIG luôn có những sáng kiến mới, trở thành đối tượng học hỏi của nhiều công ty bảo hiểm khác. Khi AIG xâm nhập vào thị trường nào là các công ty khác lại lũ lượt kéo vào theo. Nhưng, Greenberg khẳng định rằng: “Các công ty khác có thể bắt chước mô hình làm việc của AIG, nhưng không thể bắt chước cách suy nghĩ của AIG”. Bởi trước khi xâp nhập vào một thị trường của một quốc gia nào đó, Greenberg đều tìm hiểu, thiết lập quan hệ với quốc gia ấy từ trước đó rất lâu. Hơn nữa, “suy nghĩ của AGI” luôn được ông nuôi dưỡng, duy trì bằng cách đề cao vai trò và sự sáng tạo trong mỗi nhân viên. Khi nhân viên đã đưa ra ý tưởng mới, đều phải hiện thực hoá ý tưởng đó. Geenberg sẵn sàng cho họ một đội quân nhỏ để thực hiện ý tưởng mới, hay cho các giám đốc quyền tự do kinh doanh theo hướng của họ. Nếu họ thành công thì sẽ được thưởng, còn nếu thất bại, phải tự rút kinh nghiệm và nhận những lời góp ý từ người khác. “Mỗi người đều có cách nghĩ mà bản thân cho là tốt nhất nhưng, không phải cách nghĩ nào cũng mang lại sự thành công”, Greenberg khẳng định. Điều này không chỉ phát huy được tính sáng tạo trong mỗi nhân viên của AIG mà còn giúp các bộ phận trong tập đoàn thống nhất với nhau hơn. Cũng chính vì vậy mà Greenberg luôn tự hào phát biểu trước báo giới rằng: “Văn hóa từng bộ phận của chúng tôi là bồi dưỡng cho từng nhân viên có năng lực phán đoán độc lập, không cần để những giải pháp hàng ngày bó buộc tay chân của họ”. Dường như hình ảnh của vị tướng quân tài ba Greenberg hiện lên dần một rõ nét hơn. Ông là vị tướng quân đầy uy lực và nghiêm khắc. Chỉ cần ông quyết định tấn công vào đâu là hàng ngàn nhân viên phải tuân lệnh và làm theo. Nhưng, giữa thương trường khốc liệt giống như một chiến trường thiên biến vạn hóa, ông lại cho nhân viên những quyền hạn nhất định để độc lập xử lý các tình huống đó. Chiến lược táo bạo Khuyến khích nhân viên sáng tạo, cho họ những quyền hạn nhất định là cách Greenberg tăng cường sức mạnh cho đội quân AIG. Sức mạnh ấy đã giúp các chiến lược của ông được thực hiện một cách hoàn hảo nhất. Ngay từ khi trở thành Tổng Giám đốc AIG, Greenberg đã đưa ra chiến lược bành trướng quốc tế, biến AIG thành một công ty quốc tế hóa. Với sự nhạy bén, quan điểm “kinh doanh bảo hiểm cần chú trọng chiến lược lâu dài”, ông đã gieo ở mỗi quốc gia trên toàn thế giới một hạt giống và đến hôm nay, hạt giống đó đã trở thành một cái cây trưởng thành. Và trong chiến lược bành trướng này, ông đặc biệt chú ý đến các thị trường mới nổi, đặc điểm khác biệt của từng thị trường. Táo bạo và đầy thông minh, Greenberg đã giúp AIG tăng trưởng bền vững trong suốt thời gian dài tại các thị trường Trung Quốc, An Độ, Trung Au, Nam Mỹ và châu Á. Luôn song hành với chiến lược bành trướng là việc đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh. Dưới sự lãnh đạo của Greenberg, AIG không chỉ có một mạng lưới kinh doanh rộng khắp, mà còn là một công ty có nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Bên cạnh lĩnh vực bảo hiểm công - thương nghiệp, AIG còn là công ty bảo hiểm ô tô lớn nhất nước Mỹ. Ngoài ra, AGI còn kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tài chính. Ở lĩnh vực này, công ty cho thuê tài chính quốc tế -thuộc tập đoàn dịch vụ tài chính AIG - là một công ty dẫn đầu cho thuê và môi giới bán các loại máy bay ở khắp các khu vực. Các hạng mục kinh doanh của AIG đã khiến nhiều người phải “hoa mặt chóng mày” lẫn cảm phục tài lãnh đạo của Greenberg. aig-groupNhưng, chiến lược được xem là táo bạo nhất của Greenberg có lẽ là chiến lược thôn tính. Rất nhiều năm nay, AIG đã tiến hành hàng loạt các vụ thôn tính các công ty nhỏ hơn. Gần đây nhất phải kể đến cuộc thôn tính Công ty bảo hiểm Sun America trị giá 18 tỉ USD vào năm 1998, thôn tính Công ty bảo hiểm General trị giá 23 tỉ USD năm 2001. Cách thức này không chỉ nhằm mở rộng thị phần, mà điều quan trọng hơn là giúp lợi nhuận của AIG tăng trường mạnh mẽ. Bởi với Greenberg: “Kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận trong kinh doanh là quan trọng nhất. Một công ty bảo hiểm không được đem thị phần ra so sánh để cho rằng đó mới là quan trọng, nếu không sẽ không đủ năng lực để thoát khỏi những tổn thất tai hại. Khống chế giá thành và uy tín là hai nguyên tắc để đảm bảo lợi nhuận”. Lấy lợi nhuận làm thước đo, Greenberg đã yêu cầu tất cả các chi nhánh của AIG phải tuân thủ nghiêm hai nguyên tắc trên, đồng thời tiếp tục thực hiện thôn tính nhiều công ty nữa trong tương lai. Một chiến lược thông minh nữa mà nhiều nhà lãnh đạo khác phải học tập từ Greenberg là khả năng ngoại giao. Cái nhìn khôn ngoan “thêm bạn bớt thù” khiến Greenberg không ngừng thiết lập quan hệ với nhiều nhà quản lý, lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới. Và các cuộc làm ăn, sự hợp tác của AIG cũng được đơm hoa kết trái từ những mối quan hệ này. Bộ óc thông minh, phong cách lãnh đạo độc đáo của Greenberg đã giúp AIG không ngừng lớn mạnh. Thị trường được mở rộng ra khắp thế giới. Nếu như giá trị của AIG trên sàn chứng khoán New York chỉ khoảng 300 triệu USD khi ông mới lên nắm quyền, thì đến năm 2003 con số này đã vượt qua 150 tỉ USD. AIG trở thành công ty đứng thứ 9 trong số 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ. |
1023_1308217180_Robert-Kuok_3109_729_s.jpg
Con đường làm giàu của “vua đường Châu Á”
Robert Kuok, nhà sáng lập Tập đoàn thương mại đa quốc gia Kuok Group, người được mệnh danh là vua đường Châu Á đã trở thành người giàu nhất Malaysia với tổng tài sản lên tới 9 tỷ USD. Robert Kuok sinh ngày 6/10/1923 tại Johor Bahru và là con út trong gia đình có 4 anh em trai. Bố của Robert Kuok là một Hoa kiều đến Malaysia lập nghiệp từ đầu thế kỷ trước.
Robert Kuok khởi nghiệp là một tiểu thương buôn bán gạo và đường, ở tuổi 85 hiện nay gia đình nhà tỷ phú không chỉ sở hữu những doanh nghiệp ăn lên làm gia thuộc đa lĩnh vực từ lương thực thực phẩm, cho đến khai khoáng, tài chính ngân hàng, địa ốc, vận tải và xuất bản phẩm mà còn tham gia đầu tư nắm giữ cổ phần chi phối một số tập đoàn lớn tại châu Á bao gồm hãng sản xuất dầu cọ Wilmar International, công ty bất động sản Kerry Properties sở hữu khách sạn Shangri-La Asia, Nhà xuất bản bưu điện buổi sáng Trung Hoa. Nổi tiếng với dự án 1 tỷ USD sử dụng cho phát triển đất nông nghiệp và cải thiện đời sống các nông hộ nhưng Robert Kuok có cá tính kín đáo, ít xuất hiện trên báo chí. Ngay từ nhỏ ông đã khẳng định tài năng kinh doanh bằng các tổ chức một văn phòng chơi chung với các bạn cùng tuổi. Được người nhà ủng hộ, khi lớn hơn một chút, Robert Kuok bắt đầu mở một cửa hiệu nhỏ để kiếm sống. Tài năng của ông được ghi nhận ngay sau khi tốt nghiệp đại học thông qua lần trúng tuyển vào làm việc cho Mitsubishi năm 1942. Người anh cả qua đời năm 1948 cũng là lúc Robert Kuok có bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp, ông cùng 2 anh trai mình thành lập công ty mang tên Anh em nhà Kuok chuyên thu mua nông sản và buôn bán mía đường. Ông đã thực hiện quyết định táo bạo vào 12 năm sau đó bằng kế hoạch mua đường từ Ấn Độ trước khi mặt hàng này sốt giá. Cũng từ đó, ông mở rộng đầu tư vào các nhà máy đường và được mệnh danh là "Vua đường châu Á" khi kiểm soát tới 80% thị trường đường Malaysia, với sản lượng cung cấp 1,5 triệu tấn mỗi năm, tương ứng với 10% lượng đường sản xuất trên thế giới. Bắt đầu chuyển sang đầu tư bất động sản năm 1971, ông xây dựng khách sạn Shangri-La Hotel đầu tiên ở Singapore. Tiến công thị trường địa ốc Hong Kong sau đó 6 năm, Robert Kuok mua một đảo hoang và tiến hành quy hoạch cho khách sạn Kowloon Shangri-La mọc lên. Năm 1993, Robert Kuok đã cơ cấu lại doanh nghiệp của ông trở thành tập đoàn đa lĩnh vực bằng phương án góp vốn 35% cổ phần của Nhà xuất bản bưu điện buổi sáng Trung Hoa. Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều dự án kinh doanh tại những nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Australia. Cùng với sở hữu Trung tâm thương mại quốc tế Bắc Kinh, Robert Kuok còn có 10 nhà máy đóng chai cho hãng Coca Cola tại Trung Quốc. Với 2 lần kết hôn, Robert Kuok có 8 người con. Hiện nay ông chuyển đến Hong Kong để tận hưởng cuộc sống và giao phó công việc kinh doanh cho con trai Kuok Khoon Ean điều hành. Không chỉ thành công trong kinh doanh cũng như đầu tư, ảnh hưởng chính trị của ông cũng được thể hiện qua lần được bầu vào hội đồng tư vấn cho tương lai của Hong Kong khi khu đặc chính thương mại này trở về với Trung Quốc. Robert Kuok cũng là một nhà ngoại giao tích cực trong việc xúc tiến các buổi đối thoại liên chính phủ Trung Quốc và Malaysia.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
. |
|
|
1036_1308217115_Momofuku-Ando_3114_775_s.jpg
Cha đẻ của mỳ ăn liền Phát minh số một của người Nhật
Mỳ ăn liền (instant noodle) được người Nhật coi là biểu tượng về nền văn hóa của đất nước mặt trời mọc. Trong một cuộc thăm dò, người dân Nhật Bản còn xếp phát minh này lên ngôi số Một, trên cả các phát minh lừng danh như karaoke, máy nghe nhạc Walkman, máy trò chơi Nintendo của người Nhật. Mỳ ăn liền giờ đây đã trở thành loại thực phẩm tiện dụng nhất có bán rộng rãi trên toàn thế giới, từ nông thôn hẻo lánh cho tới đô thị phồn hoa ở mọi nước. Nghe nói người Nga hiện nay cũng rất thích mỳ ăn liền, nhờ thế mấy doanh nhân người Việt ở Nga chuyên sản xuất mặt hàng này đã “trúng quả” lớn. Trường hợp không có nước sôi, người ta vẫn có thể ăn sống loại mỳ này mà không sợ đau bụng. Chính vì thế mỳ ăn liền là loại thực phẩm tốt nhất dùng để cứu tế dân vùng lũ lụt. Qua truyền hình, thường thấy cảnh máy bay lên thẳng của quân đội ta thả từng thùng mỳ bọc kín trong túi ni lông xuống cho đồng bào bị mắc kẹt trong nước lũ; mọi người cứ thế nhai sống mỳ ăn liền, thật tiện lợi biết bao. Bộ đội, công an ta đi công tác hoặc trực chiến trên núi cao rừng sâu bao giờ cũng mang theo dăm gói mỳ ăn liền thay cho lương khô. Người giàu cũng không chê nó: các bà nhà ta đi nước ngoài công cán vì sợ không quen món ăn xứ người (hay vì tiết kiệm ngoại tệ?) thường mang theo cả thùng mỳ ăn liền, chẳng cần ra nhà hàng mà vẫn no bụng… Tóm lại, mỳ ăn liền là thực phẩm được tất cả mọi người không kể giàu nghèo đều thích. Thế còn giá trị dinh dưỡng của mỳ ăn liền thì sao? Nếu sản xuất theo đúng tiêu chuẩn của công ty mỳ ăn liền Nissin nổi tiếng nhất thế giới thì bạn có thể ăn món này cả năm mà vẫn khỏe mạnh. Năm 2004, ông Ando Chủ tịch công ty Nissin và Hội trưởng Hội Mỳ ăn liền toàn thế giới đến Thượng Hải theo kế hoạch 4 năm du hành khắp thế giới để nếm các loại mỳ ăn liền do thiên hạ sản xuất. Tại Thượng Hải và Nam Kinh, ông đã nếm hơn 300 loại mỳ ăn liền "made in China". Khi đến chủ trì hội nghị thường niên của Hội nói trên (năm 2004 họp tại Thượng Hải), thấy ông đã 94 tuổi mà còn hồng hào khỏe mạnh, mọi người rất ngạc nhiên hỏi ông có bí quyết gì để sống lâu. Ando nói: “Tôi khỏe thế này là nhờ toàn chén mỳ ăn liền đấy”. Quá trình sáng chế mỳ ăn liền Momofuku Ando là người Nhật gốc Trung Quốc, sinh năm 1910 tại Đài Loan, khi đó là thuộc địa của Nhật. Tên chữ Hán của ông là Ngô Bách Phúc, khi chuyển sang tiếng Nhật là An Đằng Bách Phúc. Mồ côi cha mẹ từ khi còn nhỏ, Ando sống với ông bà; lớn lên cậu bé bắt đầu làm việc trong cửa hiệu bán vải lụa của ông nội tại thành phố Đài Nam, miền Nam đảo Đài Loan. Năm 22 tuổi, Ando sử dụng tài sản thừa kế từ cha mẹ làm vốn mở một công ty kinh doanh sợi dệt. Hồi ấy, do ít người buôn hàng dệt kim nên công ty của ông có điều kiện ăn nên làm ra. Nhờ thế, một năm sau, Ando đã đủ vốn sang Nhật Bản mở công ty “Nhật Đông Thương hội” ở Osaka, thành phố lớn thứ hai nước này, chuyên kinh doanh hàng dệt kim và thiết bị máy móc. Đồng thời ông cũng theo học khoa kinh tế của trường đại học Ritsumeikan ở đây. Cuối thời gian chiến tranh Thái Bình Dương, các đợt ném bom rải thảm của quân đội Đồng Minh đã san bằng thành gạch vụn hầu như tất cả các đô thị và cơ sở công nghiệp ở Nhật; trong đó có nhà máy và cửa hiệu của Ando. Nền kinh tế cả nước bị tàn phá thảm hại chưa từng thấy, hàng chục triệu người không có việc làm; lương thực và năng lượng như điện, than, dầu đều vô cùng khan hiếm. Không chịu bó tay chờ sự cứu tế của người Mỹ, Momofuku Ando chuyển sang kinh doanh hàng bách hóa và thực phẩm. Năm 1948, ông lập công ty thực phẩm Nissin. Đầu tiên công ty này sản xuất muối ăn theo một cách đơn giản: lát các tấm tôn xuống bờ biển làm thành ruộng muối, lấy nước thủy triều vào ruộng rồi phơi nắng cho nước bốc hơi, còn lại muối trên các tấm tôn. Cũng trong thời gian ấy ông chính thức xin nhập quốc tịch Nhật Bản, trở thành công dân nước này. Hồi ấy, Nhật rất thiếu lương thực, hầu hết ăn bột mỳ do Mỹ viện trợ, tuy người Nhật quen ăn gạo. Chính quyền Nhật đề chủ trương dùng bột mỳ làm thành bánh mỳ và phát động phong trào khuyến khích toàn dân làm và ăn bánh mỳ theo kiểu người Âu Mỹ cho nhanh và tiện, đỡ phải đun nấu tốn thời gian và nhiên liệu, là thứ hồi đó rất khan hiếm. Ando không tán thành cách làm ấy, ông cho rằng nên khuyến khích dùng bột mỳ làm thành một dạng mỳ sợi ăn liền, vì dân Nhật hàng ngàn năm nay đã quen ăn gạo và mỳ sợi rồi. Những khi thấy người ta xếp hàng dài ngoài phố trong băng tuyết để chờ mua một tô mì nóng, Ando cứ băn khoăn với ý nghĩ nếu có thể làm ra một loại mỳ sợi chẳng cần đun nấu lâu, chỉ cần đổ nước sôi vào là ăn được ngay thì tiện biết bao. Ông gặp chính quyền địa phương và nêu ra đề nghị này. Nhưng chính quyền lại nói họ chẳng làm gì được, tốt nhất là ông hãy tự thực hiện ý tưởng ấy. Song vì thiếu vốn nên Ando không biết xoay xở ra sao. Sau đó ông được bạn bè mời tham gia lập một Hợp tác xã (HTX) Tín dụng. Do có uy tín, Ando được cử làm chủ nhiệm HTX. Năm 1957, HTX này bị phá sản do một nhân viên phạm pháp, Ando phải bán hết tài sản của mình để trả nợ, chỉ giữ lại được ngôi nhà ở. Khó khăn như vậy nhưng ông vẫn kiên trì thực hiện thí nghiệm mỳ ăn liền của mình, dùng nhà ở làm nơi chế thử. Khó nhất là làm thế nào để sợi mỳ có thể nhanh chóng hút được nước sôi và chín ngay. Một lần để ý thấy bà vợ dùng dầu xào nấu thức ăn, ông nảy ra ý nghĩ mình cũng dùng dầu chiên cho sợi mỳ nở ra thì nó sẽ nhanh chóng hút nước. Nói dễ làm khó, Ando thí nghiệm hàng trăm lần mới thành công. Để sợi mỳ có vị ngon, ông ngâm nó vào loại xúp nấu từ xương bò hoặc xương gà, rồi xấy khô. Sau nhiều lần thất bại, cuối cùng ngày 25/8/1958, Ando sản xuất thành công lô mỳ ăn liền vị thịt gà đầu tiên mang nhãn hiệu Ramen, thường gọi là Chikin (nói nhái tiếng Anh chicken) Ramen. Loại thực phẩm này không cần đun nấu, chỉ cần cho vào bát, rót nước sôi vào đậy kín, để một lúc là ăn được ngay, rất tiện cho người Nhật thời buổi khó khăn bấy giờ; vì thế bán rất chạy. Hồi ấy, nước Nhật đang nhanh chóng công nghiệp hóa, ai nấy đều thiếu thời gian, do đó thực phẩm ăn liền ngày càng được tiêu thụ nhiều. Để sản xuất với quy mô lớn, tháng 12 năm ấy, Ando mở rộng công ty Thực phẩm Nissin Food Products Co. Thật may cho ông, khi đang thiếu vốn thì năm sau, hãng Mitsubishi, một tập đoàn công nghiệp khổng lồ ở Nhật nhảy vào hỗ trợ quảng bá món ăn nhanh này, giúp cho mì Ramen mau chóng tăng sản lượng nhiều lần trong một nước Nhật đang nhanh chóng công nghiệp hóa. Công nghệ chiên dầu của Ando về sau còn được áp dụng cho nhiều loại thức phẩm khác, nhờ thế mà ngày nay trên thị trường có bán đủ thứ trái cây chiên ngon miệng. Một doanh nhân chân chính Mỳ ăn liền vị thịt gà đầu tiên mang nhãn hiệu Ramen Thấy mỳ ăn liền bán chạy như tôm tươi, có người tìm cách làm nhái sản phẩm Ramen. Vì họ làm ẩu nên có người ăn mỳ nhãn hiệu Ramen bị ngộ độc. Để giữ uy tín sản phẩm của mình, Ando chỉ còn cách làm đơn xin đăng ký thương hiệu và bằng sáng chế. Năm 1962, công ty ông được chính thức đăng ký nhãn hiệu sản phẩm và được cấp bằng sáng chế mỳ ăn liền; sau đó Ando gửi công văn cảnh cáo các công ty làm nhái sản phẩm của ông. Nhưng đến năm 1964, Ando lại có một cử chỉ hào hiệp là chấm dứt độc quyền sản xuất mỳ ăn liền, thành lập Hội Công nghiệp Mỳ sợi Nhật Bản và công khai sáng chế của mình, chuyển nhượng công nghệ cho các công ty khác, để họ cùng được hưởng lợi. Ông bắt đầu nghĩ rộng hơn, tới chuyện bán sản phẩm ra nước ngoài. Trong chuyến thăm dò thị trường Mỹ năm 1966, Ando quan sát thấy người Mỹ khi ăn thì dùng thìa nĩa và đĩa chứ không dùng đũa và bát như người Nhật. Ông nảy ra ý định đóng gói mỳ ăn liền vào trong những chiếc cốc to bằng giấy dày không thấm nước, đổ nước sôi vào một lúc là ăn được, như thế dù không có bát nhưng vẫn ăn được mỳ sợi. Năm 1970, Nissin mở chi nhánh đầu tiên tại Mỹ. Ngày 18/9/1971, Mỳ ăn liền Nissin đựng trong cốc (Cup Noodle) lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới. Sản phẩm của Nissin bắt đầu chiếm lĩnh thị trường bên ngoài Nhật Bản, đem lại doanh thu xuất khẩu rất khả quan cho nước Nhật đang cần ngoại tệ để phát triển kinh tế. Từ năm 1963, công ty Nissin niêm yết trên thị trường chứng khoán Tokyo và Osaka, qua đó vốn đầu tư của thiên hạ đổ vào công ty này khiến cho sản lượng mỳ ăn liền tăng lên nhanh chóng, thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Năm 2005 toàn thế giới đã tiêu thụ 85,7 tỉ gói mì ăn liền, bình quân mỗi người 12 gói, trong đó Nissin chiếm thị phần lớn nhất, với 10 tỉ gói. Tổng giá trị sản lượng mỳ ăn liền toàn thế giới năm 2003 lên tới 14 tỷ USD, thực sự là một sản phẩm quan trọng ! Công ty Nissin hiện có vốn 3 tỷ USD với 29 chi nhánh tại 11 nước. Năm 1999, Momofuku Ando lập Nhà Bảo tàng Mỳ Ramen mang tên ông ở Ikeda thuộc quận Osaka (Momofuku Ando Instant Ramen Museum). Trong 6 năm rưỡi đã có cả thảy hơn một triệu người thăm bảo tàng này; điều đó đủ thấy thiên hạ coi trọng sáng chế mỳ ăn liền của Ando như thế nào. Năm 2005, công ty Nissin còn cung cấp mì ăn liền cho nhà du hành vũ trụ người Nhật Soichi Noguchi trong chuyến bay trên tàu con thoi Mỹ Discovery lên Trạm Vũ trụ quốc tế ISS. Sau khi đưa con trai thứ hai là Koki Ando lên vị trí chủ tịch công ty Nissin, tháng 6 năm 2005, ở tuổi 95, Momofuku Ando quyết định về hưu, chỉ còn giữ chức chủ tịch danh dự của Nissin. Ông còn dự tính triệu tập một hội nghị quốc tế về mỳ ăn liền tại Osaka vào năm 2008 nhưng không kịp. Ngày 5/1/2007, Momofuku Ando qua đời tại Osaka vì một cơn nhồi máu cơ tim, hưởng thọ 96 tuổi. Nghe nói cho tới hôm ấy ông hãy còn ăn món Chikin Ramen của mình như thường lệ hàng ngày bao năm qua. Mỳ ăn liền ở Việt Nam Từ đầu thập niên 70 thế kỷ XX, các nhà tư sản người Hoa ở Sài Gòn bắt đầu sản xuất mì ăn liền theo công nghệ của Nissin. Còn nhớ sau ngày thống nhất đất nước, dịp Quốc khánh năm 1975 công nhân viên chức cơ quan, xí nghiệp ở Trung ương và Hà Nội đều được phân phối mỗi người hai gói mỳ Hai tôm chở từ Sài Gòn ra. Còn nhớ, khi mở cái túi ni-lông xinh xinh thơm phức in hình hai con tôm mập ú đỏ au, ai nấy mừng rơn, coi như một đặc sản. Quả thế, ăn thấy ngon tuyệt. Cho tới giờ dù đã ăn biết bao loại mỳ rồi nhưng nhiều người vẫn thấy đều không ngon bằng mỳ Hai tôm. Phải chăng đó chỉ là cảm giác sai lầm, vì năm 1975 có gì ngon mà ăn đâu ? Nếu đó là cảm giác đúng, thì có lẽ các cơ quan hữu trách nên giám định lại chất lượng các loại mỳ ăn liền sản xuất ở ta hiện nay. Theo số liệu của Bộ Công nghiệp, năm 2005 tổng sản lượng các loại mì, cháo, phở ăn liền do khoảng 40 công ty (kể cả liên doanh nước ngoài) sản xuất tại Việt Nam lên đến 2,5 tỉ gói! Mỳ ăn liền nước ta còn được xuất khẩu đi nhiều nơi. Một số doanh nhân người Việt ở Nga và Đông Âu đã giàu lên nhanh chóng trở thành triệu phú đô-la nhờ kịp thời tổ chức sản xuất mỳ ăn liền khi các nước này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Công lao của ông Momofuku Ando như thế thật to lớn và ông thực sự là một doanh nhân có tầm nhìn xa và đáng khâm phục.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
|
1044_1308216909_Van-hoa-thanh-cong-c_4402_910_s.jpg
Sau 5 năm nghiên cứu và phỏng vấn rất nhiều người thành công từ khắp nơi trên thế giới, Forbes đã đúc kết là có 3 thành tố văn hóa mang tới thành công cho những nhà tỷ phú. (Hình Tỷ phú Warren Buffett)
1. Không e ngại, không sợ thất bại
Tất cả nhân vật được phỏng vấn đều phát biểu rằng: có những thời điểm họ đứng giữa ngã ba đường với hai lựa chọn. Hoặc con đường dễ dàng và an toàn, hoặc lối đi mạo hiểm có tính toán. Để đạt đến tầm cao thực sự của tài sản, để có của cải nhiều đếm không xiết như bao người khao khát, thì nhất thiết phải có mạo hiểm. Những ai tìm kiếm công việc ổn định, luôn e ngại trải nghiệm mới mẻ, lo sợ và không dám thử cái khác biệt, thì mãi mãi không thể giàu như mơ. Trên thực tế, những nhà đại tư bản thất bại ít nhất một lần. Những người tái thành công chia sẻ rằng: Chính nhờ thất bại, họ mới có thể nhìn lại những sai lầm và thiếu sót của mình, biến nó thành bài học kinh nghiệm vô giá khi trở lại cuộc chơi. Thất bại chỉ thảm hại khi đánh mất sự lạc quan và những đam mê. Một giám đốc công ty internet tâm sự về việc làm thế nào anh vực dậy công ty có giá trị tài sản vượt 1 tỷ USD trong thời đại bong bóng “chấm com”. Khi mới lập nghiệp, anh từng đạt đến vinh quang và đỉnh giàu sang: đi du lịch vòng quanh thế giới bằng máy bay riêng. Khi kinh tế bong bóng vỡ, khó khăn chồng chất. Tuy nhiên, thay vì để thất bại và khủng hoảng tài chính làm yếu lòng, anh đã kiên trì bền chí, khởi nghiệp lần nữa. Từ kinh nghiệm thất bại, anh lập ra một công ty kỹ thuật mới, mạnh hơn, sát hợp với thời đại hơn. Kết quả là anh vừa bán công ty với giá vài trăm triệu dollar, mua chiếc máy bay phản lực mới. Và thay vì lao vào ăn chơi hưởng thụ, anh lại bắt tay thành lập doanh nghiệp mới… 2. Khả năng xoay chuyển tình thế Khó khăn và trở ngại khiến người bình thường yếu lòng, nhưng lại thúc đẩy với doanh nhân tài ba bộc lộ tài năng và óc sáng tạo để tìm nguồn doanh thu mới. Không suy nghĩ theo lối mòn, cũng không đi ngược trào lưu một cách xa vời. Những nhà đại bản đó phân tích khó khăn – trở ngại ở nhiều góc độ khác nhau. Rồi kiên trì bền chí với phát kiến của mình. Một ông chủ ngành xăng dầu kể chuyện này: Nhiều năm trước, ông thấy những trạm xăng tốn quá nhiều diện tích. Đó đều là đất vàng đất bạc mà mọi người chỉ ghé vào đổ xăng rồi đi thì phí quá. Nghĩ vậy, ông mới nảy ra sáng kiến là kết hợp trạm xăng với cửa hàng tiện lợi. Tuy nhiên, lúc đó, ông cũng bị nhiều lời cười nhạo: Ai lại vừa đi đổ xăng vừa mua càfê? Nhưng, ngày nay, bạn nhìn xem, ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, hiếm có trạm xăng nào mà không có cửa hàng tiện lợi ngay đó. Doanh nhân đó thành công vì ông đã nhìn ra lời giải đáp cho một vấn đề bất cập. Đồng thời, ông cũng là người kiên định trong việc thực hiện ý tưởng, quyết thử cái mới, chứ không chần chừ, do dự, lung lay mà để vuột mất cơ hội. 3. Có người bạn đời phù hợp Họ đã kết hôn đúng một nửa cần có của mình. Ở đây không phải các ông muốn làm giàu thì phải chọn mấy chị nữ thừa kế để kết hôn mới là thượng sách. Trên thực tế, những người giàu bằng chính công sức của mình cần một người bạn đời tâm giao. Trong quá trình lập nghiệp, trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, căng thẳng và áp lực. Vậy nên, họ cần người bạn đời có thể là chỗ dựa tinh thần. Đặc biệt là cần người giàu lòng tin khi họ đang chiến đấu để leo lên ngôi vị dẫn đầu. Hầu hết những ông trùm tư bản đều có tuổi thơ túng thiếu. Họ từng ở nhà thuê hoặc cầm cố tài sản và đất đai để làm vốn khởi nghiệp. Nhiều người cặm cụi lao động trong tiệm sửa xe, hoặc làm nhiều việc cùng một lúc trước khi lập nghiệp thành công. Vài người thành công vang dội, rồi thất bại thảm hại, trước khi lại tái lập từ hai bàn tay trắng. Nhiều khó khăn vậy khiến doanh nhân thành đạt thật sự cần người bạn đời luôn tin tưởng và cùng họ vượt qua mọi trở ngại trên đường
|
1057_1308216887_10-nhan-vien-dau-tie_4403_560_s.jpg
Hãy cùng đi tìm hiểu về 10 cái tên đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nên đế chế trị giá 300 tỷ USD.
Apple không giống như các công ty lớn khác trên thế giới, dường như toàn bộ danh tiếng của họ gắn liền với một cái tên: Steve Jobs. Đó là sự thật không thể bàn cãi, Jobs là nhân vật tối quan trọng giúp Apple trở thành công ty công nghệ có giá trị lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, ông ta không làm điều đó một mình.
Sau đây chúng xin giới thiệu với độc giả 10 nhân viên đầu tiên của Apple - những gì họ đã làm được và tình hình hiện tại của họ. Danh sách đã được các biên tập viên của Business Insider tổng hợp. CEO đầu tiên của Apple- Michael Scott đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin hữu ích về thời gian hình thành công ty và Steve Wozniak đã cho một danh sách các nhân viên ban đầu của Apple. Tuy nhiên tất cả chỉ dựa vào trí nhớ của ông. Cuối cùng, để hoàn thành danh sách này, chúng tôi cũng tham khảo các thành viên khác của Apple.
Các con số trong danh sách sau không được xếp theo trình tự gia nhập công ty của từng người. Khi Scott đến làm việc cho Apple, ông ta đã trao cho mỗi nhân viên một số hiệu riêng để việc thanh toán tiền lương dễ dàng hơn.
#10 Gary Martin (kế toán)
Ban đầu Martin cho rằng Apple sẽ thất bại, tuy nhiên ông vẫn gia nhập công ty và đảm trách vị trí kế toán. Ông ở lại Apple cho đến năm 1983. Sau đó, Martin chuyển sang làm việc cho Startruck, một công ty hoạt động trong lĩnh vực du lịch vũ trụ với Michael Scott là nhân viên chủ chốt (chính Scott khi còn ở Apple đã thuê Martin).
Martin hiện là một nhà đầu tư tư nhân và nằm trong hội đồng công ty LeoNovus- một công ty công nghệ ở Canada.
#9 Sherry Livingston cánh tay phải của CEO đầu tiên
Một phần các hồ sơ đầu tiên ở Apple mà rất có thể Livingston đã sắp xếp.
Livingston là thư kí đầu tiên ở Apple và bà đã cống hiến rất nhiều. Michael Scott, người đã thuê Livingston, nói bà hầu như đảm trách tất cả công việc nhỏ của Apple như sắp xếp hồ sơ vào những ngày đầu tiên của công ty. Livingston mới lên chức bà gần đây, không có thông tin về việc bà còn công tác hay không.
#8 Chris Espinoza: nhân viên bán thời gian của Apple khi còn học trung học
Chris Espinosa nhận làm part-time cho Apple khi mới 14 tuổi khi vẫn đang học trung học. Hiện tại, anh vẫn gắn bó với công ty. Trên blog cá nhân của mình, Chris đã giải thích anh được trao số thẻ nhân viên thứ 8 bởi khi CEO Michael “Scotty” Scott phát số thẻ, anh đang ở trường. Anh ta đến muộn và được trao số thẻ này.
#7 Michael "Scotty": Scott CEO đầu tiên của Apple
Scott đã kể rằng ông ta tự chọn cho mình mình số thẻ nhân viên thứ 7 bởi ông rất thích điệp viên James Bond 007. Scotty, như ông ta thường được gọi, đặt số thẻ cho nhân viên và tổ chức công ty. Ông ta được Mike Markkula, người đã đầu tư 250.000USD vào Apple và giúp lên kế hoạch kinh doanh cho công ty, chọn về làm CEO.
Hiện tại, thú vui của Scotts là đá quý. Ông đang nghiên cứu để biến chiếc máy tricoder trong phim Star Trek thành hiện thật, để mọi người có thể nhận dạng các viên đá trong rừng và phát hiện thành phần của chúng.
#6 Randy Wigginton
Dan Kotkke (#12), Randy Wigginton (#6), Chris Espinosa, (#8).
Michael Scott nói công việc chính của Wigginton là viết lại BASIC (một họ ngôn ngữ lập trình) để nó hoạt động trên các PC của Apple II. Sau khi rời Apple, ông ta đã làm việc cho nhiều công ty công nghệ lớn như eBay, Google, Chegg và hiện tại là Square.
#5 Rod Holt nhân vật tối quan trọng trong quá trình phát triển Apple II
Khi đó, Holt là một nhà thiết kế danh tiếng, lúc đầu ông đã rất hoài nghi với việc tham gia Apple. Trong cuốn sách “ The return to Magic Kingdom”, Holt nói Steve Jobs đã dụ dỗ ông nhận công việc đó. Holt là một người cộng sản và ông đã giúp phát triển nguồn cấp điện cho Apple II.
Michael Scott nói, “Công lao lớn nhất của Holt là ông đã chế tạo ra bộ chuyển nguồn, nhờ đó đã cho phép chúng tôi làm được một chiếc máy tính nhẹ hơn hẳn so với các máy tính sử dụng máy biến thế của các công ty khác lúc đó”.
Sau 6 năm ở Apple, Holt đã bị "đá" bởi quản lý mới.
#4 Bill Fernandez
Bill Fernandez gặp Steve Jobs lần đầu tiên ở trường cấp 2 Cupertino, khi đó Jobs là một cậu học sinh mới vào trường. Fernandez cũng là một người hàng xóm và một người bạn của Steve Wozniak. Khi Jobs và Wozniak đồng sáng lập Apple, họ đã thuê Fernandez làm nhân viên đầu tiên của công ty. Ông ở lại Apple tới năm 1993, rồi sau đó rời sang làm việc Ingres-một công ty cơ dữ liệu. Hiện tại, Fernandez sở hữu một công ty thiết kế riêng.
#3 Mike Markkula
Trong quá trình phát triển Apple, vai trò của Markula cũng quan trọng không kém Steve Jobs và Wozniac. Ông ta đã rót vào công ty một khoản đầu tư trị giá 250.000 USD. Đổi lại, Markula nắm quyền kiểm soát 30% công ty. Ông cũng giúp đỡ trong công tác quản lý công ty, phát triển kế hoạch kinh doanh, thuê CEO đầu tiên và thuyết phục Steve Wozniak ở lại Apple (Lúc đó Wozniak đang phân vân với lời đề nghị từ HP).
Markkula cũng là một trong những nhân viên đầu tiên của Intel và đã trở thành triệu phú khi công ty này cổ phần hóa. Theo như cuốn “Return to the Little Kingdom”, khoản đầu tư của Markula lúc đó không bằng 10% tổng tài sản của ông ta.
Ông ở lại Apple đến năm 1997, nhìn thấy trước sự ra đi và trở lại của Steve Jobs. Ngay khi Jobs quay về, Markkula quyết định rút lui. Từ đó, ông đã đầu tư vào một vài công ty và ủng hộ tiền cho đại học Santa Clara.
#2 Steve Jobs được trao số 2 chỉ để làm ông cay cú
Đúng vậy, nhân viên số 2 mới là số hiệu chính thức của Jobs dù ông luôn khăng khăng nhận rằng mình là nhân viên số 0. Được biết, Michael Scott muốn chọc tức vị CEO hiện thời của Apple nên mới làm như vậy.
#1 Steve Wozniak: thiên tài kĩ thuật
Wozniak suýt nữa đã bỏ qua Apple. Lúc đó, ông đang xem xét một lời mời làm việc cho HP tại bang Oregon bởi Wozniak cũng như Gary Martin và Rod Holt, cho rằng Apple sẽ chẳng mấy mà sập tiệm. Thật may ông vẫn quyết định đúng đắn và tham gia Apple. Hiện ông vẫn là một nhân viên của Apple nếu xét theo một mức độ nào đó, và ông vẫn thường xuyên có các cuộc trao đổi với Steve Jobs.
|
944_1308218200_Bill-Ruprecht--Vi-cu_3063_911_s.jpg
Được chọn là người kế nhiệm điều hành Sothebys, không ai tin rằng Bill Ruprecht có đủ khả năng vực dậy nó.Trăm dâu đổ đầu … Ruprecht
Khi Ruprecht nhận chức vụ Giám đốc điều hành Sotheby’s, không một ai nghĩ rằng ông đủ khả năng làm việc đó, kể cả bản thân ông. Bố làm kinh doanh và mẹ là một họa sĩ, nhưng Ruprecht lại bắt đầu với công việc đánh máy trong bộ phận tạp vụ ở Nhà Sotheby’s.
Ông nhận làm việc ấy chỉ vì ông cần một chỗ làm, và ở tuổi 23, ông chỉ biết mỗi việc đánh máy. Nhưng với sự năng động của mình, ông dần dần được thăng tiến. Đầu tiên là làm chuyên viên nghiên cứu nghệ thuật phương Đông, sau đó là giám đốc marketing, rồi đến việc phụ trách các buổi bán đấu giá. Tuy nhiên, không có công việc nào trong số đó cho ông những kinh nghiệm để đối mặt với những gì mà ông phải đương đầu hiện nay: những khách hàng giận dữ, các nhà đầu tư dễ nổi cáu và sự điều tra của Bộ Tư pháp… Tám năm trước, có thể nói, Sotheby’s là một trong những công ty tệ nhất nước Mỹ. Trước Enron, Tyco và WorldCom, Sotheby’s ở trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Nguyên Giám đốc điều hành Dede Brooks, người nổi tiếng chuyên đi cửa sau với Christopher Davidge - Giám đốc điều hành Công ty lưu trữ Văn thư Christie’s, đã thừa nhận dàn xếp giá sau khi nhiều vụ việc bị phanh phui. Giấy xác nhận của Brooks sau đó cũng đã kéo theo Al Tauban - cựu Chủ tịch Sotheby’s vào tù. Sự việc này khiến nhà Sotheby’s ngay lập tức phải có nhà điều hành mới. Và Bill Ruprecht đã được chọn. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất mà ông phải đối mặt lúc này là tiền mặt. Vì vụ tai tiếng này khiến Sotheby’s gần như sập tiệm. Giám đốc nhân sự của nhà Sotheby’s, Alexander - người đã làm việc cùng Brooks trong 16 năm - cho rằng: “Chúng tôi đã phải gánh chịu những thiệt hại hết sức nặng nề mà người ngoài không thể nào hiểu hết được”. Sotheby’s đã mất một khoản tiền khổng lồ vào việc kiện cáo rối rắm trong vụ tai tiếng đó. 500 triệu USD tiền bồi thường, tương đương với toàn bộ lợi tức của công ty trong năm của công ty. Mặc khác, bán đấu giá là một công việc khá xa xỉ, công ty phải chi trả một khoản tiền không nhỏ cho các chuyên gia, công tác lưu trữ, làm catalogs… Đặc biệt để đạt được sự ủy thác của khách hàng, công ty thường xuyên phải chi trả trước cho người bán bằng việc ký giấy bảo đảm hoặc các khoản cho vay. Tuy được “bảo trợ” bởi gia đình ông trùm địa ốc Taubman, cổ đông lớn nhất của Sotheby’s và là người giữ vai trò điều hành chính ở công ty. Thế nhưng tình hình cũng không sáng sủa hơn và đã hơn một lần, công ty gần như bị buộc phải đóng cửa. Có lần, Sotheby’s phải từ chối một hợp đồng trị giá 40 triệu USD đơn giản chỉ vì nó không còn đủ khả năng tài chính. Betsey Ruprecht, vợ Bill Ruprecht nhớ lại: “Đã có lúc Bill nói với tôi rằng “anh sẽ trở về nhà và chẳng có công ty nào ở đây nữa!”. Từ năm 2000 đến năm 2003, công ty thua lỗ tổng cộng 307 triệu USD. “Cả hệ thống gần như tê liệt” - Ruprecht nói. Bên cạnh việc phải liên tục điều đình với các chủ nợ để xin gia hạn, ông còn mạnh tay cắt bớt chi phí, giảm 30% nhân công và tạm hoãn việc kinh doanh trên mạng, bán hạ giá bất động sản cho Cendant với giá 100 triệu USD. Thậm chí ông bán luôn cả tòa nhà trụ sở chính của Sotheby’s, sau đó thuê lại văn phòng. Dù mọi việc đang rất tồi tệ, nhưng Ruprecht vẫn tỏ ra không có chuyện gì, ông luôn chứng tỏ cho những người bên ngoài thấy rằng mọi việc đều ổn. Bởi sẽ chẳng ai ký hợp đồng 10 triệu USD với một nhà bán đấu giá nếu họ biết mình không trả nổi hóa đơn tiền điện. Với sự bình thản của ông, ngay cả trong nội bộ cũng không ai biết công ty đang trên bờ vực phá sản. Bằng cách riêng của mình, ông đã xoay sở đủ tiền để giữ lại những nhân viên giỏi nhất như chuyên gia David Norman của trường phái ấn tượng, cánh chim đầu đàn của nghệ thuật đương đại - Tobias Meyer. Chỉ có 3 người: Giám đốc nhân sự Alexander, Tổng cố vấn Pillsbury và Giám đốc Tài chính Bill Sheridan được quyền biết chính xác tình hình nguy khốn của công ty. “Boy with a pipe” - Bước ngoặt của sự thành công Sau nhiều năm Bill Ruprecht điều hành, Sotheby’s đã có những bước đi “chậm mà chắc”. Vấn đề tài chính bắt đầu được cải thiện. Tên tuổi của nhà Sotheby’s dần được phục hồi và khẳng định không chỉ trong thị trường Mỹ mà còn lan tỏa sang một số nước khác trên thế giới. Năm 2004, khi Sotheby’s bán đấu giá bức “Boy with a Pipe” của danh họa Picasso, thuộc quyền sở hữu của nhà John Hay Whitney. Giá ban đầu cho bức tranh này là 70 triệu USD. Khi định mức giá này, chắc chắn nhà Sotheby’s phải hiểu tầm quan trọng của nó khi họ biết rằng kỷ lục của thị trường mua bán tranh vẫn là bức "Portrait of Dr. Gachet" của Vincent Van Gogh (lập được vào ngày 15/5/1990), với giá trị 82,5 triệu USD. “Boy with a pipe” là tài sản của gia đình ông bà John Hay Whitney, nhà sưu tập tranh “danh giá” nhất nước Mỹ. Công trình của họ được xem là một trong những bộ sưu tập thuộc trường phái ấn tượng và cận đại thế kỷ 20 có giá trị nhất hiện nay”. Bill Ruprecht cho biết. Và vì thế khi họ quyết định đem bán nó và một số họa phẩm khác thì đối với Bill, “đây là nhóm tranh cực kỳ đặc biệt mà Sotheby’s đem ra bán đấu giá từ trước đến nay”. Nói như David Norman, Phó Chủ tịch Sotheby"s thì: "Điều này không đơn giản chỉ xuất hiện một lần trong một thập niên, hay lớn hơn là cả một thế hệ, mà nó sẽ chỉ là một lần duy nhất diễn ra trong đời”. Vào đêm đấu giá, mọi người quyết liệt tranh nhau trả giá. Tuy không tiết lộ danh tính người mua nhưng Sotheby’s cho biết cuộc đua diễn ra rất căng thẳng, 12 người tham gia cuộc đấu giá nhưng chỉ còn 2 người ở vòng cuối. Chiếc búa hạ xuống khi có người mua bức tranh với giá 104.168.000 USD, một kỷ lục mới cho thị trường hội họa. Giá trị toàn bộ sưu tập được đem ra đấu giá trong ngày hôm đó lên đến 213 triệu USD. Ruprecht và những người định giá của Sotheby’s quả là sành sỏi, họ đã đặt bức tranh ở ngưỡng khó ai có thể lặp lại sau này. 14 năm cho một kỷ lục mới, và người ta tự hỏi bao lâu nữa kỷ lục này sẽ bị đổi ngôi. Nhờ vào vận may bất ngờ từ nhà Whitney, năm ấy, Sotheby’s công bố lợi nhuận và chính thức bước vào thời hoàng kim của mình. Phục sinh nhà Sotheby’s Là người được chọn để đưa con tàu Sotheby’s hỏng hóc hoạt động trở lại và tiếp tục đi đúng hướng, Ruprecht đã cố gắng liên tục để giữ cho con tàu này khỏi đắm. Ông từng xoay sở tiền mặt để trả lương cho nhân viên toàn công ty chỉ trong vòng 12 giờ. “Giống như bạn đang đi trong một tòa nhà đang bốc cháy, và bạn phải cứu mọi người bên trong đó. Và đó là tất cả những gì mà Bill Ruprecht đã làm được”, Giám đốc tài chính Bill Sheridan nhớ lại”. Nếu như những thành công trong việc buôn bán các tác phẩm nghệ thuật được tính bằng đôla, thì Ruprecht hoàn toàn đủ tiêu chuẩn để trở thành kiện tướng. Trong năm 2005, có 657 tác phẩm nghệ thuật đã bán được với giá hơn 1 triệu USD cho mỗi tác phẩm, đó là một kỷ lục xưa nay chưa từng có. Sotheby’s và Christie’s đã hợp tác với nhau bán ra nhiều tác phẩm với tổng trị giá 5.9 tỉ USD, tăng 168% trong hai năm. “Thị trường này đang phát triển rất nhanh. Mỗi thương vụ đều lập nên nhiều kỷ lục mới” - Chủ tịch Christie’s Americas, Marc Porter cho biết. Năm nay, hai nhà đấu giá này đã bán ra được hơn 1.4 tỉ USD. Ruprecht không chỉ có công cải tử hoàn sinh nhà Sotheby’s mà ông còn đưa nó tiến lên không ngừng. Giờ đây, sau nhiều năm khủng hoảng, Sotheby’s đang hồi phục và phát triển. Năm 2005, doanh thu của nhà Sotheby’s đã tăng 80% với con số kỷ lục 513 triệu USD. Năm 2006, giá cổ phiếu của nó đã tăng lên 50%, tức là 30 USD/cổ phiếu so với giá 16 USD/cổ phiếu năm 2005. Cách Ruprecht khắc phục những hậu quả sau vụ tai tiếng của công ty đã gợi ra những chiến lược kinh doanh mang lại sự phát triển ổn định, điều đó đã làm hài lòng các nhà đầu tư. Công việc của Ruprecht hiện nay là tiếp tục đưa Sotheby’s vươn lên. Những chiến lược kinh doanh mới Để công ty ngày càng lớn mạnh không chỉ ở Mỹ, Ruprech đã tung ra hàng loạt sáng kiến mang tính quyết định. Trong đó có việc mở rộng Sotheby’s sang thị trường Nga đã mang lại nhiều thành công ngoài mong đợi. Bên cạnh đó, ông cũng ra sức tìm cách thu lợi từ nhiều nguồn khác bên ngoài phòng đấu giá. Mới đây, ông đã khai trương Sotheby’s Diamonds, cạnh tranh với chuỗi cửa hàng bán lẻ trang sức của Tiffany. Ngoài ra, ông cũng đang dự định sẽ nhượng quyền thương hiệu Sotheby’s nhằm tìm thêm nguồn thu ổn định. Đến nay, Sotheby’s đã nhận được phí nhượng quyền từ Công ty Cendant, và công ty này được quyền sử dụng cái tên Sotheby’s để kinh doanh bất động sản. Công việc kinh doanh lâu nay của Sotheby’s cũng đang chuyển sang một hướng mới. Ruprecht thực hiện một chiến lược marketing đầy táo bạo, hướng đến những khách hàng tinh tế và có ý thức cao. Vào tháng 4, Sotheby’s đã tung ra 40,000 thẻ hội viên cho những khách hàng như thế. Với thẻ này, khách hàng được miễn phí vận chuyển các tác phẩm nghệ thuật bằng đường thủy, giảm giá cước vận chuyển hàng không, ưu đãi tham quan các viện bảo tàng và nhiều đặc quyền khác. Đồng thời, Ruprecht cũng tập trung vào những công ty có ý thức cao, loại ra những công ty nào không thuộc nhóm này. Ngày nay, Sotheby’s vẫn bán đấu giá những bồ đồ gốm sứ, nhưng đó chỉ là một phần trong bộ sưu tập lớn hơn nhiều. Kết quả ban đầu của chiến dịch marketing là số lô hàng bán ra của nhà Sotheby’s bị sút giảm từ 110,000 xuống còn 77,000 chỉ trong vòng một vài năm. Quả thật đó quả là một kế hoạch đầy mạo hiểm. Tuy nhiên, sau đó không lâu, số lô hàng họ bán ra đã tăng lên 50%, tương đương 35,000 USD. Năm 2006, lợi nhuận của Sotheby’s tăng lên 39%. Chiến lược của Ruprecht thực sự đã có hiệu quả. Trong khi đó, đồng nghiệp Christie’s lại chú trọng vào các tác phẩm bình dân hơn, giá khoảng 500 USD, và họ cho rằng việc đó mang lại nhiều lợi nhuận. Mặc dù giá cổ phiếu đang tăng vọt, các phòng bán đấu giá lúc nào cũng ồn ào, Ruprecht vẫn có phần nghi ngờ và luôn cảnh giác. “Đây là công việc của những sự kiện bất ngờ” - ông nói - “Thử tưởng tượng, chúng ta đang đứng trong một hố cát, chúng ta bị tấn công mỗi ngày. Và khi mọi thứ đã qua, ta vẫn không tin rằng mình vẫn còn đứng vững”. Sự nhạy bén của Bill Ruprecht Thị trường nghệ thuật đang trải qua một cuộc chuyển biến đáng kinh ngạc. Tất cả giới nhà giàu mới nổi, từ người điều hành những quỹ bí mật đến những ông trùm ở châu Á, hay những đầu sỏ chính trị ở Nga… đều tham gia vào thị trường này. Họ lao vào những phòng đấu giá với niềm phấn khích cao độ. Sotheby’s biết được tầng lớp nhà giàu ở Nga, những triệu phú và tỉ phú sở hữu phần lớn tài sản quốc gia tỏ ra hứng thú với các tác phẩm nghệ thuật. Vì thế Ruprecht cho rằng “tiềm năng phát triển ở thị trường Nga là rất lớn”. Trong năm 2006, các tác phẩm nghệ thuật Nga đã mang về cho nhà Sotheby’s số tiền kỷ lục: 153 triệu USD. Một trong những nhân vật chính thúc đẩy sự gia tăng doanh thu trên là Pyotr Aven, Chủ tịch Ngân hàng Alfa, là người sở hữu một bộ sưu tập nghệ thuật Nga thuộc thế kỷ 20, được trưng bày tại ngôi nhà của Pyotr Aven ở ngoại ô Moscow. Một nhân vật khác là trùm ngành dầu mỏ Viktor Vekselberg, người nổi tiếng với vụ mua lại 9 quả trứng kim hoàn Faberge từ gia đình Forbes ở Mỹ năm 2004 và đã trao tặng chúng cho Chính phủ Nga. Những nhà sưu tập mua lại những tác phẩm nghệ thuật của Nga mà Sotheby’s London bán ra thì đến 80% là người Nga. Anh cũng là nơi mang về cho Sotheby’s khoảng 40 triệu USD từ cuộc đấu giá tác phẩm nghệ thuật Nga lớn nhất được tổ chức hồi tháng 6-2007. Trước đó, vào tháng 4-2007, mot cuộc đấu giá tác phẩm nghệ thuật Nga khác của Sotheby’s ở New York cũng đã thành công ngoài mong đợi với số tiền thu được khoảng 51 triệu USD. Nhận thấy sự hiện diện ngày càng nhiều của người Nga trong thị trường này, năm 2007, Sotheby’s mở một văn phòng đại diện ở Moscow. Theo Ruprecht, Sotheby’s đã nhận thấy sự thay đổi ở thị trường Nga kể từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, và kinh tế đóng vai trò lớn trong sự thay đổi này. Ông cho biết thêm thành phần nhà sưu tầm tác phẩm nghệ thuật Nga trong 5 năm qua đã trở nên đa dạng hơn, không chỉ có người trong nước mà còn cả những người di cư đến phương Tây hay có liên hệ gia đình với Nga. Việc họ chi hàng triệu USD để mua một tác phẩm Nga có thể là nhằm thể hiện lòng yêu nước, hay cũng chỉ đơn thuần là một bước đi đầu tư thông minh. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là sự nhiệt tình trên đã khiến người Nga ngày càng nổi bật trong giới sưu tập nghệ thuật trên thế giới. Giữ chức vụ cao nhất trong một sàn đấu giá 264 năm tuổi, Ruprecht, ở tuổi 52, đã có một cái nhìn thông suốt về thế giới kỳ lạ này. Dường như mỗi ngày, ông đều nhìn thấy những gia tài kếch sù được đem trao đổi với những thứ mà sự hấp dẫn của chúng không tài nào giải thích nổi. Và hơn 30 năm sống trong thế giới của những cuộc bán đấu giá, Bill Ruprecht đã chứng kiến những thay đổi về quan niệm “thế nào là nghệ thuật” qua mỗi thời đại. Trong cái thế giới ấy, câu hỏi đặt ra không phải “thế nào là nghệ thuật?”, mà là “anh trả bao nhiêu cho kiệt tác này?”. Công việc của Ruprech không phải đi tìm câu trả lời để chứng minh thế nào là nghệ thuật, hay ra sức để bảo vệ cái giá trị thuần túy của nó. Nhiệm vụ đặt ra lúc này của ông là lái con thuyền Sotheby’s tiến lên trong thời đại mới. Liệu người đã cứu công ty trong quá khứ, có thể đưa nó tiến thẳng đến tương lai? Câu trả lời có ở Bill Ruprecht.
Theo Chuyện Doanh nhân
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
945_1308218180_Charlie_3064_564_s.jpg
Ý tưởng của “Kẻ dại khờ”.Ông là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực môi giới chứng khoán. Trên con đường đi tới thành công. Schwab đã gặp không ít khó khăn, sự ganh đua, dèm pha của giới kinh doanh ghen tị.
Các ngân hàng từ chối không cho vay tiền, các ông chủ bất động sản thì không dám cho thuê địa điểm.
Nhưng ông đã vượt qua tất cả những khó khăn đó và đưa công ty lên đến đỉnh cao của thành công như ngày nay bằng chính tài nghệ kinh doanh của riêng mình. Tuy là con trai của một luật sư tầng lớp trung lưu, sinh ra và lớn lên tại một trang trại nhỏ ở Woodland, California nhưng Schwab bộc lộ năng khiếu kinh doanh ngay từ khi còn nhỏ. Cậu bé biết cách kiếm tiền nhờ việc bán các phụ lục, tạp chí, nuôi gà ở sân chơi... Những ngày đi học kinh tế tại Đại học Stanford cũng là chuỗi ngày kiếm việc làm thêm vất vả tại một công ty tư vấn đầu tư ở địa phương. Kiên trì theo đuổi, sau khi nhận bằng MBA, ông được bổ nhiệm ngay làm phó chủ tịch công ty. Nhưng trong đầu Schwab luôn nung nấu những ý tưởng lớn hơn. Muốn làm ông chủ thật sự. Năm 1962, ông đã cùng hai người bạn mở một bản tin cho nhà đầu tư. Công ty phát triển nhanh chóng nhưng bị tiểu bang Texas ra lệnh cấm vì chưa đăng ký kinh doanh. Ông đã đấu tranh ở toà, nhưng rốt cuộc phải ôm một món nợ án phí lên đến 100.000 USD. Mặc dù vậy, Schwab vẫn không nản lòng. Với 100.000 USD vay mượn được của người chú, ông mở văn phòng đầu tiên của Charles Schwab & Co ở San Frandsco năm 1971. Lúc đầu, công ty cũng chỉ là một doanh nghiệp chứng khoán trẻ đang bươn chải với khoảng chục nhân viên và 2,000 khách hàng cần tìm chỗ đứng cho riêng mình. Nhận thấy rằng hầu hết các nhà môi giới đều thực hiện giảm giá cho các khách hàng lớn và tăng giá đối với các khách hàng nhỏ, ông đã quyết liệt tấn công thị trường các nhà đầu tư nhỏ. Chính sách miễn phí dịch vụ và giảm hoa hồng tới 50% so với giá đối thủ cạnh tranh đã lôi cuốn khách hàng. Để duy trì giảm giá mà vẫn thu được lợi nhuận, ông đã sử dụng hệ thống đặt hàng qua máy tính. Thời đó, công ty của ông là một trong những nhà môi giới đầu tiên làm được như vậy. Nhiều chuyên gia đã hoài nghi con đường của Schwab. Nhưng ông đã minh chứng cho họ qua sự phát triển lớn mạnh của công ty. Các chi nhánh và cung cấp dịch vụ 24/24 giờ, các dịch vụ lập tài khoản cho những người về hưu, tài khoản quản lý tiền mặt... tiếp tục được mở rộng. Năm 1981, Schwab đã có văn phòng đại diện trong 40 thành phố, 600 nhân viên, 200.000 khách hàng và tổng doanh thu hàng năm lên đến 42 triệu USD. Tuy vậy, việc mở rộng công ty quá nhanh đã làm giảm lợi nhuận, khó khăn về tài chính. Ông đã phải bán công ty cho Ngân hàng Mỹ với giá 57 triệu USD. Trong khi công ty cũ của ông vẫn thu lợi nhuận tốt thì ngân hàng lại lỗ nặng. Sáu năm làm việc trong tâm trạng bực bội với Ngân hàng Mỹ, cuối cùng ông đã chán ngấy. Năm 1987, Schwab đã mua lại công ty với giá 230 triệu USD. Sau khi ông quay trở lại điều hành, công ty sớm thu được nhiều lợi nhuận và lấy lại được danh thế là nhà môi giới hàng đầu. Schwab đã tự tìm cho mình lối kinh doanh riêng, không theo quan điểm của các chuyên gia. Ông đã tự tạo nên hình thức kinh doanh môi giới cổ phiếu và thương mại trực tuyến, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư cá nhân để có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận. Yếu tố tạo nên thành công cho Schwab chính là chiến lược tiếp thị. Ông đã tạo ra một biểu tượng, một hình ảnh, một con người để các khách hàng luôn liên tưởng đến khi nghĩ đến công ty. Những bức ảnh của ông được treo ở các biển quảng cáo khắp mọi nơi. Và khi khách hàng được phỏng vấn về công ty, họ luôn nhắc đến ông với cái tên "Charlie" (Kẻ dại khờ).
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
977_1308217861_Ling-yuhui_3073_579_s.jpg
Nữ triệu phú trẻ nhờ bán đồ lót nam
Từ niềm đam mê đó, Ling Yuhui đã đứng ra thành lập công ty TNHH Công nghệ và Thông tin Dihe. Công ty này sở hữu một website chủ yếu bán đồ lót cho nam giới. Cộng với doanh thu bán hàng của các cửa hàng thực và cửa hàng nhượng quyền thương mại, công ty của Ling đã thu về 2 triệu nhân dân tệ trong năm 2008.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Fudan, trong khi một người bạn cùng phòng kí túc của Ling tiếp tục theo học tại một trường đại học nổi tiếng ở Anh, hai cô bạn khác thì bán đồ trang sức và tìm được công việc ổn định tại một nhà băng ở Thượng Hải thì Ling khởi nghiệp bằng việc kinh doanh đồ lót. Cha của Ling vốn là một doanh nhân, chính ông là động lực lớn để Ling theo đuổi niềm say mê của riêng mình “Cha tôi đã thay đổi quan điểm của ông ấy. Mặc dù tôi kiếm được lợi nhuận ít hơn ông nhưng khối lượng bán hàng của tôi thì lớn hơn”, Ling nói. “Gia đình tôi có một lịch sử lâu dài làm dân kinh doanh. Cả ông tôi và bố tôi đều là những doanh nhân”, Liu tự hào. Khi Liu còn nhỏ, bố cô đã dạy cô rằng “Con gái thì nên dịu dàng, đoan chính và biết cách làm công việc nội trợ”. Khi đó, Ling được bố trả 0,5 NDT cho việc rửa chén và 1 NDT để quét sàn nhà. Điều đó trang bị cho Ling một nền tảng kinh tế khi chỉ mới là một cô bé. Lúc Ling bước vào trung học cơ sở, cha Ling đã thành lập một nhà máy may với một doanh nhân Đài Loan và đó là cơ sở để Ling bắt đầu công việc làm ăn của mình sau này. Ling phải trải qua rất nhiều khóa học bắt buộc khi cô mới là sinh viên năm nhất và năm thứ hai “Tôi đã hoàn thành rất nhiều các khóa học bắt buộc nhưng tôi còn làm rất nhiều công việc part-time như nghề gia sư để kiếm tiền. Khi đi học đại học, tôi cảm thấy khó chịu khi phải ngửa tay xin tiền bố mẹ, do vậy tiền tự tôi kiếm được đủ cho tôi trang trải chi phí và cho phép tôi sống một cuộc sống tốt đẹp hơn”, Ling mỉm cười khi nhắc lại những trải nghiệm này “Các bạn cùng lớp tôi cũng là các công việc part-time nhưng họ không làm việc nặng nhọc như tôi làm”. Khi đang học năm hai, Ling quen một giáo viên tại trường ngoại ngữ ngoài Đại học Fudan. Cô giáo này cũng giống Ling ở khoản đam mê thời trang và trang điểm. Sau đó, người này trở thành đối tác làm ăn đầu tiên của Ling. Năm thứ ba đại học, Ling bắt đầu “thử nghiệm” kinh doanh với đại lý BBS tại Đại học Fudan. “Thời điểm đó, tôi thích chơi cầu lông, vì vậy, tôi đã bán áo chơi cầu lông cho một nhãn hiệu”. Tại một cuộc thi đấu cầu lông liên trường, Ling đã tài trợ áo cho đội tuyển của trường Fudan. Khi đại học Fudan và đại học Tongji bước ra thi đấu, cả hai đội mới ngã ngữa ra: áo của hai đội giống hệt nhau. Hóa ra cộng sự của Ling cũng đã bán được một lô áo cho đội tuyển trường Tongji. Sau đó, Ling và người cộng sự đã mở một cửa hàng mang tên Luola Fashion ở phía bắc đại học Fudan cho sinh viên thực tập thuê quần áo. Cửa hàng bán đồ rất ngẫu hứng. Lúc đầu, Ling không có ý định kiếm tiền, nhưng sau đó, cô nhận thấy cửa hàng hoạt động rất tốt và đã hoàn vốn 100% chỉ trong năm đầu tiên. Kết quả đó đã khích lệ Ling và giúp cô vạch ra một kế hoạch khá “hoành tráng”: “Tôi sẽ mở một chuỗi các cửa hàng, sẽ có những thương hiệu của riêng tôi và mở rộng việc làm ăn ra cả nước”. Tuy nhiên, ở thời điểm rất quan trọng này, Ling đã vấp phải một trở ngại đầu tiên khi bắt đầu thành lập công ty: cộng sự của Ling rời bỏ cô. Điều đó khiến Ling gần như tuyệt vọng bởi cô nhận thấy trong một năm qua, cô chỉ đóng vai trò là người thực hiện chứ không nắm quyền lãnh đạo. Tất cả các quyết định mang tính chiến lược đều do người cộng sự của cô đưa ra. Mọi việc đều diễn ra rất bất ngờ, công ty thua lỗ và không biết đi đến đâu. Thất bại này đến vào thời điểm Ling chuẩn bị tốt nghiệp đại học, do đó cô phải xem xét tương lai của mình một cách nghiêm túc. Ling tìm được việc làm tại một công ty. Sau khi làm việc một thời gian, qua một người bạn cùng lớp, Ling biết đến Tianshi, một quỹ kinh doanh công nghệ và khoa học của sinh viên trường Đại học Thượng Hải. Ling quyết định gửi thư ngỏ lên quỹ Tianshi và tìm lối đi cho công việc kinh doanh của riêng mình. Ling bắt đầu thành lập một nhóm gồm một người bạn cùng lớp đang làm chủ cửa hàng tại Đại học Fudan và một người bạn cùng học hồi trung học đã tốt nghiệp Đại học Tongji. Hai người này là đại lý quần áo thể thao của Ling. Cả ba cô gái trẻ đều bắt đầu bỏ công sức để thực hiện một chương trình với tên gọi “Đế chế đồ lót”. Ling cho hay “Tại thời điểm đó, tôi không nghĩ đến việc liệu chúng tôi có hỗ trợ được lẫn nhau hay không, nhưng tôi chỉ nghĩ rằng chúng tôi nên làm điều đó cùng nhau vì chúng tôi đều muốn thành công”. Dựa vào những kinh nghiệm “làm ăn” có từ thời học đại học, dự án kinh doanh độc đáo neiyidiguo.com và nhóm làm việc của Ling đã được đã được Quỹ Tianshi lựa chọn. Vào tháng 5 năm 2007, Liu đã thực sự thành công khi nhận được nguồn hỗ trợ từ quỹ này. “Tại thời điểm đó, neiyidiguo.com không hơn gì một ý tưởng. Mãi đến tận tháng 10, dự án mới bắt đầu khởi động”, Ling chia sẻ. Những mối lo ngại của gia đình Ling được loại bỏ khi họ chứng kiến cô nhận được tài trợ của chính phủ và có được sự trợ giúp từ phía các trường đại học. Vào tháng 3/2008, công ty của Ling chính thức được đặt trụ sở tại Khu khoa học và công nghệ cao Yangpu, chấm dứt một năm dài kinh doanh tại nhà. Năm 2005, Ling mở một cửa hàng trong khuôn viên trường. Năm 2006, Ling đã rất nỗ lực để khai trương một cửa hàng trực tuyến trên trang taobao.com. Sau đó, Ling bắt đầu quan tâm đến mô hình thương mại điện tử… Ling bắt đầu nảy ra ý tưởng bán đồ lót trên mạng. Và đồ lót dành cho đàn ông là sự lựa chọn đầu tiên của cô bởi nó được vận chuyển dễ dàng và chẳng mấy ai cần phải thử trước khi mua. Bên cạnh đó “chưa có ai dám kinh doanh mặt hàng này”, Ling nói. Việc phát hiện ra điểm “mù” này trên thị trường rất quan trọng đối với neiyidiguo.com nhưng không dễ chút nào khi áp dụng ý tưởng này vào thực tế “Rất khó để tạo lập trên mạng Internet một thương hiệu nhất định. Ngoài những quan ngại về vấn đề chi phí, còn có rất nhiều hàng giả và hàng nhái tràn lan trên mạng. Thật khó khăn để trấn an khách hàng rằng chúng tôi đang bán hàng chính hãng”... Mục đích chính của Ling và các cộng sự của cô trong năm nay là phải xây dựng được thương hiệu riêng. Ling tiết lộ công ty của cô đã sản xuất một số sản phẩm phù hợp với thị hiếu của thị trường. Các sản phẩm đó bao gồm đồ lót, quần áo may sẵn chủ yếu dành cho nam giới, thứ hai mới đến cho nữ giới “Việc bán hàng chủ yếu phụ thuộc vào Internet”…
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
978_1308217833_Masayoshi-Son-_3074_814_s.jpg
“Bill Gate” của Nhật Bản
Người ta thường xem ông như Bill Gate của Nhật Bản. Vào thời kỳ bùng nổ thương mại điện tử năm 1995, bất ngờ Son đưa ra quyết định táo bạo, trong 18 tháng mua lại hàng loạt doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực công nghệ cao với tổng giá trị 4,5 tỷ USD vốn đầu tư.
Đầu tiên, ông thôn tính tạp chí hàng đầu về máy tính Ziff-Davis (Mỹ). Ngay sau đó mua tiếp 37% cổ phần mạng tìm kiếm Yahoo và 21% cổ phần hãng truyền hình vệ tinh TV Asahi (Nhật Bản). Ít lâu sau, ông đầu tư 1,5 tỷ USD vào hãng sản xuất bộ nhớ máy tính Kingston Technology (Mỹ). Tham vọng lớn nhất của Son là đưa công ty Softbank trở thành hãng dịch vụ Internet hàng đầu thế giới. Khi doanh nghiệp thương mại điện tử hưng thịnh cùng thị trường chứng khoán, giá trị doanh nghiệp Softbank nhanh chóng tăng 76 tỷ USD. Nhưng tài sản của Son cũng bốc hơi tới 70 triệu USD trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Tỷ phú Son sinh ngày 11/08/1957 tại đất nước mặt trời mọc nhưng mang trong mình hai dòng máu Hàn Quốc - Nhật Bản. Ông nội của Son là một thương nhân Hàn Quốc di cư tới nước này. Ngay từ nhỏ cậu bé Son đã tỏ ra hứng thú với công việc kinh doanh. Tình cờ trong một lần được bố mẹ dẫn đến nhà hàng McDonald, giám đốc Den Fujita gợi ý Son nên học tiếng Anh và tin học. Từ đó, Son làm quen từng bước và mê say các môn học này. Đến năm 16 tuổi Son được gia đình chuyển sang California và học xong bậc phổ thông tại đó. Trường Đại học California cũng là nơi Son hoàn thành khóa học cử nhân kinh tế và anh đồng thời tranh thụ nghiên cứu thêm về máy tính. Với quan niệm công nghệ chip nhỏ bé xử lý có tiềm năng tạo ra cuộc cách mạng trong kinh doanh. Chính vì vậy, Son đã hình thành ý tưởng phát triển một loại thiết bị dịch thuật ngay từ khi mới 19 tuổi và sau đó phát minh thành công được hãng Sharp Electronics mua lại với giá 1 triệu USD để ứng dụng cho các máy hỗ trợ cá nhân PDA. Kết quả đó đã dẫn tới quyết định thành lập Softbank vào năm 1981 tuy nhiên chỉ sau hai tuần đi vào hoạt động, 2 nhân viên đầu tiên đã xin thôi việc ngay song không vì thế mà Son từ bỏ tham vọng. Sau khi tốt nghiệp, Son tập trung hết mình để doanh nghiệp riêng lớn mạnh. Đến năm 1995, Softbank đã kiểm soát phân nửa thị trường phần mềm máy tính tại Nhật Bản. Hiện nay, Softbank có cổ phần trong hơn 50 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Internet trên thế giới, đặc biệt là xuất bản điện tử, ngân hàng trực tuyến, sản xuất phần mềm và phát thanh truyền hình. Tuy nhiên, giới phân tích cũng như một số đối thủ cạnh tranh đã cảnh báo về bộ máy quản lý của Softbank có lỗi dẫn đến khoản rò rỉ 2,4 tỷ USD, ngay lập tức tỷ phú Son triển khai kế sách lâu dài thiết lập chế độ kiểm toán sản xuất cùng với bình chọn nhà quản lý xuất sắc hàng tháng.
- Theo VTC (Forbes/Time/Wikipedia)
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1000_1308217540_eike-Batista-_3091_126_s.jpg
Tỷ phú mê tín
Trong danh sách những tỷ phú của thế giới, Eike Batista nổi tiếng là một doanh nhân thích mạo hiểm. Ông đã từng tham gia vào những cuộc đào vàng và suýt mất mạng tại một mỏ vàng của Brazil. Trong danh sách những tỷ phú của thế giới, Eike Batista nổi tiếng là một doanh nhân thích mạo hiểm. Ông đã từng tham gia vào những cuộc đào vàng và suýt mất mạng tại một mỏ vàng của Brazil.
Ở tuổi 51, ông đã trở thành người giàu nhất đất nước châu Mỹ này với tổng tài sản ước tính 6,6 tỷ USD. Ông đã thành lập nhiều công ty khác nhau, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực khai khoáng. Batista đang đứng thứ 142 trong danh sách những người giàu nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn năm 2008. Hơn 30 năm vật lộn với thương trường, Batista đã nếm trải quá nhiều thành công lẫn thất bại, giờ đây dường như không có gì có thể làm ông phải lo sợ, kể cả những biến động lớn của thị trường thế giới có thể gây ảnh hưởng đến công ty của ông - công ty khai khoáng MMX Mineracao Metalicos SA. Tin vào vận may “Tôi nghĩ đến những chuyện lớn và tôi không ngại đương đầu với rủi ro, thậm chí khi tôi đơn độc. Tôi đã bắt đầu từ các mỏ vàng. Tôi biết đến rủi ro và mất mát và dựng nghiệp từ những thương vụ vụn vặt khi mọi người chưa tin vào tôi”, Batista đã trả lời phỏng vấn của truyền hình Brazil như vậy. Khởi nghiệp bằng nghề khai thác vàng, sau đấy ông xây dựng và điều hành một công ty khai quặng. Ông chủ ít học này đã giành được những thương vụ kinh doanh trị giá nhiều triệu USD với người Mỹ, và đồng ý trả 5,5 tỷ USD để chiếm cổ phần đa số trong công ty khai khoáng có mã chứng khoán là MMX. Các công ty của Batista cũng bắt rễ sang lĩnh vực khai thác khí đốt và dầu mỏ, dịch vụ logistic, vận chuyển quặng từ các mỏ đến cảng biển, xây dựng các nhà máy đốt than ở Brazil. Batista là người “mê tín”. Tất cả các công ty của ông đều có những cái tên như EBX, MMX, OGX, LLX, với chữ “x” ở cuối, mang ý nghĩa sự giàu có được nhân lên, với niềm tin là có một mối liên hệ thần bí giữa cuộc sống của con người với các chữ cái và con số; một logo mặt trời vàng, tượng trưng cho năng lượng, sự giàu có và lạc quan, theo quan niệm của người Inca . Đấy cũng là màu sắc và hình ảnh chủ đạo được trang trí trên lá cờ của những con tàu du lịch của Batista trên vịnh Guanabara của thành phố Rio. Logo này cũng được in trên danh thiếp và các đồ dùng tại nhà hàng Rio của Batista. Con số may mắn của Batista là 63. Tất cả các mức giá được ông đưa ra đấu thầu đều kết thúc bằng con số 63 xu, và hợp đồng với các đối tác luôn có một con số chính xác, giảm giá 63 xu. “Eike tin vào sự may mắn. Ông ấy mê tín như bất cứ người Brazil nào”, Oliveir - vợ thứ hai của Eike Batista nhận xét. Trong năm nay, 27 đợt đấu giá cổ phần đã bị hoãn lại trên thị trường vốn Brazil do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong khi đó, Batista cho biết ông đang huy động vốn dựa trên sự ổn định tương đối của quốc gia. “Tôi là một phần của thế hệ doanh nghiệp mới, những doanh nghiệp không cần đến nguồn vốn trợ giúp của Chính phủ, mà có thể tiếp cận với các thị trường vốn, những người dám đương đầu với rủi ro và nhận được sự đền đáp xứng đáng”, Batista nói. Sau khi đổ vốn vào các mỏ vàng vào thập niên 1980 - 1990 và sau đó lấn dần sang các mỏ nickel, đồng, sắt và nhiều công việc kinh doanh ngoài ngành khai khoáng khác trong những năm sau đó, và hiện nay ông đang đặt rất nhiều hy vọng vào những mỏ dầu xa bờ. Số tiền 6,7 tỷ Reais Công ty OGX huy động được qua đợt đấu giá tháng 6/2008 sẽ hỗ trợ vốn cho phát triển khai thác dầu mỏ. Đây là công ty được thành lập năm 2007, có giá trị 35 tỷ Reais sau một đợt đấu giá lớn nhất Brazil. Trong một cuộc đấu giá tháng 11/2007 để giành quyền khai thác dầu, Batista đã tiêu đến 800 triệu USD để giành được quyền khai thác 21 giếng dầu xa bờ, có trữ lượng lên đến 4,8 tỷ thùng. “Ông ấy là một người không sợ rủi ro, và đấy cũng là phẩm chất của người Brazil”, Francisco Gros, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty OGX nói. Khi OGX được thành lập tháng 9/2007 và thất bại trong việc thu hút được số vốn 500 tỷ USD, Batista đã dùng 370 triệu USD từ tiền túi của mình để đầu tư phát triển công ty này. Vào giữa tháng 2 năm nay, Batista đã tặng 30% cổ phần của mình trong các nhà máy điện tại Brazil và Chilê, trị giá khoảng 1 tỷ USD, cho các cổ đông thiểu số trong công ty điện của mình - Công ty MPX Energia SA. Hồi tháng 4, Batista thu được 3,5 tỷ USD nhờ bán một số mỏ cho những người Mỹ. Đây là khoản lợi 10 con số thứ ba của Batista trong hai năm từ những công ty do ông xây dựng. Ông đã có thêm 6,7 tỷ Reais (4,2 tỷ USD) trong khối tài sản của mình sau đợt bán cổ phần trong Công ty dầu mỏ OGX Petroleo vào tháng 6 năm nay. Hàng năm ông vẫn thu được món lợi ít nhất 1 tỷ USD từ kinh doanh dịch vụ logistic, thông qua Công ty LLX Logistica SA. “Anh ấy là người có thể kiểm soát nhiều việc trong cùng một lúc và vẫn luôn nghĩ ra cách kiếm tiền với những ý tưởng tốt thật sự”, Gouvea, Giám đốc tài chính tại MMX, một công ty của Batista chia sẻ. Trong khi theo đuổi lợi nhuận từ thị trường hàng hóa sơ chế, Batista cũng có những dự án xây dựng lớn. Eike cho biết, trong tháng 9 vừa qua, ông đã huy động được 800 triệu USD bằng việc bán cổ phần trong LLX để xây dựng hai liên hợp cảng biển ở Brazil: một ở phía Bắc thành phố Rio, chủ yếu để vận chuyển quặng sắt, ethanol và vận tải nói chung; và một ở gần thành phố Sao Paulo - một cảng biển container. Không ngại va chạm Đầu năm 2008, Eike Batista đã từng nói với tờ báo Sao Paulo: “Tôi muốn vượt qua Bill Gates trong 5 năm nữa. Brazil phải là số 1”. “Khi 24 tuổi, tôi đã mua được mỏ vàng đầu tiên cho riêng mình. Tôi luôn tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới”, Batista kể lại. Eike cho biết ông đã kiếm được 6 triệu USD trong năm đầu tiên. Kiếm tiền từ các mỏ vàng luôn là công việc rất mạo hiểm và Batista đã từng suýt mất mạng khi bị một nhóm cướp tấn công. Tuy nhiên, những công việc kinh doanh khai thác mỏ của Batista cũng đã thu hút sự chú ý của các cơ quan chức năng. Một số quan chức cho rằng Batista đã vi phạm các luật lệ tại một đất nước nổi tiếng vì tính quan liêu và tệ nạn tham nhũng của các quan chức. Theo thông tin từ cơ quan môi trường của Brazil, kể từ giữa năm 2007, Công ty khai khoáng MMX của Batista đã từng 3 lần bị phạt vì mua than củi ở những khu vực cấm đốn củi. Năm 2007, cảnh sát liên bang Brazil đã phát hiện Công ty MMX mua than củi từ kho dự trữ của người Ấn Độ để phục vụ cho nhà máy sản xuất gang gần khu vực Corumba, giữa vùng Pantanal - vùng đầm lầy nước ngọt lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Batista không ngại những va chạm này bởi ông đã lớn lên trong môi trường khai khoáng đầy thử thách. Eike được sinh ra trong khu vực khai khoáng Minas Gerais và lớn lên trong những câu chuyện mà bố kể về quặng sắt, đường sắt và cảng biển. Giờ đây, khi đã ở tuổi 85, bố của Batista - Da Silva - là người giám sát các công trình công cộng. Trước đó, ông đã từng làm việc tại công ty xây dựng Vale từ năm 1949 và trở thành giám đốc điều hành năm 1961. Ông cũng giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài nguyên của Brazil năm 1962 - 1963. Da Silva chuyển đến sống ở thành phố Dusseldorf, Đức năm 1968 và sau đấy đến Brussel - Bỉ để mở rộng hoạt động của Vale trên thị trường quốc tế. Năm 1979, ông trở về Rio và tiếp tục giữ ghế giám đốc điều hành của Vale cho đến năm 1986. Công ty nhà nước này được cổ phần hoá vào năm 1997. Da Silva hiện vẫn là thành viên Hội đồng quản trị của MMX. Batista đã cùng gia đình đến Đức năm 18 tuổi. Ông học tại trường Đại học RWTH Aachen, và đã lấy được chứng chỉ luyện kim của đại học này. Batista nói rằng ông tự khám phá ra khả năng kinh doanh của mình khi làm công việc bán thời gian là bán bảo hiểm nhân thọ. Quay trở về Brazil vào những năm đầu của thập niên 1980, Batista đã gia nhập vào đội quân tìm vàng ở phía Nam khu vực Amazon, thành phố Alta Floresta. Ông làm chuyên gia môi giới trong các thương vụ về vàng và đá quý. Với công việc này, Batista phải tìm người mua ở Sao Paulo và Rio, mỗi thương vụ Batista kiếm được 5% hoa hồng và tiền thưởng. Sau khi mua được mỏ vàng đầu tiên và khai thác thủ công một thời gian, ông quyết định cơ giới hóa công việc khai thác vàng. Ban đầu, ông đã mất vài triệu USD vì mỏ vàng nằm ở khu vực vùng sâu vùng xa và chỉ có thể vận chuyển hàng hóa bằng máy bay. Batista cho biết: ông không lường trước được khó khăn về giao thông vận tải ở đây. “Tôi đã mắc rất nhiều sai lầm. Tôi đã mất tiền. Tôi đã từng phải mua một chiếc máy bay Douglas DC-3 cũ để vận chuyển thiết bị đến mỏ, cuối cùng công việc cũng xong”, Batista kể lại. Sau đó, ông tiếp tục khai thác hai mỏ vàng khác, cả hai đều thông qua đối tác. “Tìm kiếm những tài sản có chất lượng tốt, và thu hút các đối tác để hỗ trợ là công việc rất thú vị”, Batista chia sẻ. Cuối thập niên 1990, sau khi mua các mỏ khoáng sản ở Brazil, Canada, Chilê và Hy Lạp, ông đã quyết định chỉ làm việc ở Brazil, với chuyên môn chính vẫn là khai thác năng lượng và các mỏ sắt.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1001_1308217505_Jin-Chwen_3092_185_s.jpg
Nắm bắt cơ hội để làm tuổi trẻ dài hơn
Khơi dậy ước muốn đi du lịch Nhiệt tình của tuổi trẻ và óc quan sát nhạy bén là điều có thể thấy ở Jin khi tiếp xúc với anh lần đầu. Làm việc trong ngành du lịch, Jin đã đi qua nhiều tỉnh thành Việt Nam. Jin cho biết hầu hết người Singapore đều thích đi du lịch, thích nhìn ngắm phong cảnh lạ, tìm hiểu văn hoá khác, nếm thử những món ăn mới.
Và trong khi Indonesia, Thái Lan, Malaysia đã trở nên quen thuộc với họ thì Việt Nam vẫn còn rất mới, mặc dù đường bay Việt Nam – Singapore đã lên đến 90 – 100 chuyến/tuần. Theo Jin, Việt Nam có thể khai thác thế mạnh về ẩm thực để thu hút du khách Singapore, bằng chứng là các nhà hàng Việt ngày càng trở nên phổ biến ở đảo quốc sư tử. Nhiều người Singapore cho rằng thức ăn Việt Nam ngon và tốt cho sức khoẻ, không quá nhiều gia vị, không chế biến cầu kỳ nhưng vẫn có hương vị đặc biệt, có những nét thú vị riêng, mà điển hình là bông súng, bông điên điển được dùng để làm thức ăn... Thế mạnh thứ hai của Việt Nam là cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phù hợp với nhu cầu nghỉ ngơi vào cuối tuần. Nhiều người Singapore sau những ngày làm việc căng thẳng rất thích đến vùng núi hoặc biển để nghỉ dưỡng. Ngay như bản thân Jin cũng thích đi du lịch và chơi các môn thể thao dưới nước nên điểm du lịch Việt Nam hấp dẫn nhất đối với anh là Phan Thiết. Jin cho rằng Việt Nam nên chú trọng quảng bá du lịch tại những đại lý vé máy bay, tại các điểm tư vấn du lịch ở các nước láng giềng vì đây là kênh thông tin có nhiều tác động đến quyết định chọn lựa điểm đến của du khách. Điều quan trọng là giữa một “rừng” quảng cáo, có nhiều hình ảnh đẹp, muốn người xem chú ý thì phải làm nổi bật được những nét độc đáo, đặc sắc của điểm đến. Anh góp ý kiến rằng quảng bá một đất nước không phải là tiếp thị từng hình ảnh, từng sản phẩm du lịch một cách đơn điệu mà phải là sự giới thiệu một cách nghệ thuật, sao cho du khách tưởng tượng ra ngay những trải nghiệm mới, những cảm giác mới sẽ có nếu đến đất nước đó du lịch. Theo kinh nghiệm từ Singapore, cách quảng bá hiệu quả nhất là chính phủ có những chính sách hợp lý để mời gọi sự tham gia từ các nhà đầu tư du lịch, còn Tổng cục Du lịch giữ vai trò phối hợp các hoạt động quảng bá ở nhiều lĩnh vực thành chiến dịch đồng bộ. Mặt khác, mạng lưới quan hệ với các công ty du lịch, hãng hàng không, công ty PR tại nwosc ngoài là rất quan trọng, điển hình là ngay cả khi chưa mở văn phòng đại diện ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Du lịch Singapore cũng đã thiết lập được những mối quan hệ chặt chẽ với nhiều công ty lữ hành tại đây. Chuyển nghề không khó Tốt nghiệp Trường đại học Công nghệ Nanyang chuyên ngành ngân hàng – tài chính nhưng từ năm 25 tuổi, Jin Chwen đã đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau tại Tổng cục Du lịch Singapore: tham gia vào phát triển các dự án trọng điểm như dự án tái tạo và phát triển ngành công nghiệp giải trí 24h và dự án vui chơi giải trí ban đêm của Singapore, là thành viên của nhóm thẩm định Khu liên hợp Resort Marina Bay Sands và Singapore Sport Hub. Khi chuyển sang làm giải trí, rồi quảng bá du lịch, dù đó là những ngành nghề mới nhưng anh vẫn rất tự tin và nhanh chóng nắm bắt công việc. Jin cho biết chìa khoá hoá giải những khó khăn của anh chính là phương pháp tự nghiên cứu, cách tiếp cận, cách giải quyết vấn đề và cách làm việc theo nhóm đã được đào tạo ở trường đại học. Nhờ đó anh nắm được phương pháp tự bổ sung kiến thức một cách có hệ thống và không mất nhiều thời gian để bắt đầu công việc mới. Khi tham dự các buổi hội thảo giáo dục, Jin thường nói với các sinh viên rằng nếu học đại học kỹ thuật thì đừng nghĩ mình chỉ có thể là một kỹ sư, học ngân hàng đừng nghĩ mình chỉ có thể làm việc trong ngân hàng, luôn có nhiều cơ hội để học những kỹ năng mới, để thử sức trong lĩnh vực mới. Jin tâm niệm rằng tuổi trẻ dài là tuổi trẻ có nhiều trải nghiệm, nên bản thân anh luôn cố gắng nắm bắt cơ hội để được làm việc trong nhiều môi trường khác nhau. Sau hai năm miệt mài cùng các sự kiện, các chiến dịch marketing ở Việt Nam, từ vẻ trắng trẻo thư sinh, giờ đây trông Jin ngăm đen, rắn rỏi hơn hẳn. Lấy niềm vui công việc bù đắp nỗi nhớ nhà, lấy niềm say mê trải nghiệm làm sức bật để vươn tới những nấc thang cao hơn trong cuộc sống, đó là cách Jin trải qua một phần tuổi trẻ tại đất nước này.
- Theo Doanh nhân cuối tuần
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1018_1308217310_Ratan-Tata_3101_552_s.jpg
Doanh nhân đáng kính trọng nhất Ấn Độ
Tata - Dòng họ số 1 Ấn Độ Năm 1868, Jamsetji Tata sáng lập Công ty Tata, bắt đầu khai sinh ra một “đế chế kinh tế” số 1 của Ấn Độ cho đến ngày hôm nay - Tập đoàn Tata. Là một thương gia có tinh thần chủ nghĩa dân tộc rất cao, Jamsetji luôn nỗ lực cho sự phát triển hùng mạnh của kinh tế Ấn Độ trên trường quốc tế.
Từ nhà máy sản xuất thép, nhà máy thủy điện, xưởng dệt, tuyến vận tải thủy, nhà máy xi măng đến trường đại học khoa học và khách sạn đẳng cấp thế giới do ông xây dựng nên đều là những công trình đầu tiên của Ấn Độ. Từ một công ty nhỏ bé, Tata đã nhanh chóng trở thành một tập đoàn hùng mạnh với 95 công ty lớn nhỏ, chi phối hầu như mọi lĩnh vực trong nền kinh tế Ấn Độ. Trong đó có hãng sản xuất trà lớn thứ hai thế giới Tata Tea, hãng phần mềm lớn nhất châu Á Tata Consultancy Services, công ty thép hàng đầu thế giới Tata Steel, một chuỗi hệ thống khách sạn trên khắp thế giới Indian Hotel, nhà máy sản xuất xe hơi Tata Motors… Có được sự phát triển nhanh chóng như ngày nay, có thể nói chính là nhờ sự điều hành hiệu quả của các thành viên trong dòng họ Tata. Từ người sáng lập Jamsetji Tata, hầu hết các thành viên của dòng họ này đều nắm giữ những vị trí chủ chốt trong các công ty thuộc tập đoàn. Tập đoàn Tata luôn có người kế thừa thừa mạnh mẽ, và đó là bản sắc quan trọng trong sự phát triển từ khi ra đời đến nay. Ngay từ lúc Jamsetji Tata thành lập đơn vị dệt đầu tiên năm 1868, đến con trai của ông là Dorap Tata thành lập Công ty Thép Tata và Năng lượng Tata. Kế đến, người tiên phong trong lĩnh vực hàng không Jehangir Tata đã xây dựng hãng hàng không thương mại cho Ấn Độ dưới cái tên Hãng hàng không Tata, đồng thời mở rộng hoạt động của công ty sang lĩnh vực kinh doanh trà, khách sạn, buôn bán và đầu máy,… Tuy nhiên, điều đem đến sự kính trọng của nhân dân Ấn Độ đối với dòng họ Tata, không chỉ ở quyền lực về kinh tế mà chính là ở tấm lòng luôn quan tâm đến người lao động nghèo, và một tinh thần dân tộc sâu sắc. Một câu chuyện được nhiều người dân Ấn Độ biết đến khi nói về dòng họ Tata là trước khi qua đời, Jamsetji Tata đã khuyên con trai Dorab, người đang muốn xây dựng một thành phố kỹ nghệ ở Bihar rằng: “Hãy bảo đảm rằng sẽ có những con đường rộng rãi, cây trồng hai bên vệ đường. Hãy để dành nhiều không gian thoáng đãng với thảm cỏ xanh và vườn cây tươi tốt trong các khu dân cư, và đừng quên chỗ cho các đền thờ Ấn giáo, đạo Hồi và nhà thờ Thiên Chúa giáo”. Và Ấn Độ đã có một thành phố kiểu mới theo đúng như lời ông nói, và được đặt tên là Jamshedpur để tưởng nhớ người đã đưa ra ý tưởng rất nhân văn này. Ngày ngày 28 tháng 12 năm 1937 tại Mumbai, đứa cháu đời thứ 3 của dòng họ Tata ra đời. Đó là Ranta Tata, người kế nghiệp xuất sắc và là người đã đưa thương hiệu Tata phát triển ra ngoài lãnh thổ Ấn Độ. Người kế nghiệp xuất sắc Mặc dù được sinh ra trong một gia đình quyền lực và nổi tiếng nhất Ấn Độ, nhưng tuổi thơ của Ratan Tata lại thiếu đi tình yêu thương của mẹ. Giữa năm 1944, sau khi ly hôn, mẹ ông bỏ đi khi ông mới được 7 tuổi. Ông cùng một người em trai phải sống dưới sự chăm sóc của bà nội. Bắt đầu từ năm 1950, khi mới 13 tuổi, ông đã theo cha đến các nhà máy, công ty để học cách thức kinh doanh của Tập đoàn Tata. Thời trung học, Ratan theo học tại Trường Campion, một trường thuộc loại tốt nhất ở Mumbai. Dường như, mọi sự chuẩn bị tốt nhất cho vị trí lãnh đạo Tập đoàn Tata sau này đều đã được đặt trên vai của ông ngay từ thời điểm đó. Năm 1962, ông tốt nghiệp Đại học Cornell với tấm bằng Kỹ sư Kiến trúc. Sau khi làm việc ở một số công ty trong thời gian khá ngắn, tháng 12/1962, ông nhận được lời đề nghị của Jehangir Tata - là ông và đồng thời là chủ tịch tập đoàn lúc bấy giờ - vào làm việc cho Tập đoàn Tata. Ông vào làm ở Công ty sản xuất Thép Tata. Trong khoảng gần 10 năm, công việc của ông gắn chặt với những người lao động chân tay khác. Những công việc như xúc đá vôi, đắp lò luyện… đều được ông làm qua. Chính vì cùng làm việc với những người công nhân đó nên ông hiểu được sự khổ cực, vất vả của tầng lớp bình dân trong xã hội. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đối với công việc kinh doanh của ông sau này. Năm 1971, Ratan Tata được bổ nhiệm làm Giám đốc thường trực Công ty Điện tử và Phát thanh Quốc gia (Nelco). Khi đó công ty đang trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng về tài chính. Bắt tay vào vực dậy công ty, ông nhanh chóng cho cấu trúc lại các sản phẩm, thu hút nguồn đầu tư, cơ cấu lại hoạt động bộ máy điều hành, mở rộng khách hàng. Những biện pháp của ông nhanh chóng đưa công ty thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển. Từ năm 1972 -1975, Nelco đã chiếm giữ 20% thị trường, giành lại được vị trí mà nó từng đánh mất. Thành công này khẳng định tài năng lãnh đạo của Ratan Tata trong việc điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến năm 1975, Thủ tướng Chính phủ Indra Gandhi tuyên bố tình trạng khẩn cấp, điều này dẫn đến sự giảm sút của nền kinh tế Ấn Độ. Tập đoàn Tata bị ảnh hưởng nặng nề và bước vào thời kỳ suy thoái. Năm 1991, Ratan Tata tiếp quản chiếc ghế Chủ tịch của Tập đoàn Tata. Ông nhanh chóng nhận thấy cần xem xét lại toàn bộ cung cách điều hành của tập đoàn. Ngay lập tức, ông quyết định tăng nguồn vốn của tập đoàn trong các công ty con lên tối thiểu 26%, nhưng kèm theo đó, ông đề ra các chỉ thị cụ thể về hiệu suất kinh doanh như: phải làm sao phát triển đạt vị trí thứ nhất hay thứ hai trong lĩnh vực kinh doanh của mình, nếu không thì phải chấp nhận bị bán đi. Điển hình nhất là quyết tâm thay đổi của Ratan Tata trong Công ty Thép Tata Steel. Ông kiên quyết cắt giảm một nửa đội ngũ công nhân 78.000 người trong giai đoạn từ năm 1994 - 2005, tận dụng những khoản tài chính tiết kiệm này để đầu tư giảm giá thành sản phẩm và nâng cao năng suất. Tata Steel trở thành nhà cung cấp thép có giá thấp nhất trên thế giới. Hiệu quả kinh doanh của công ty được thể hiện rõ rệt. Từ khi Ratan Tata lên nắm quyền chủ tịch năm 1991, doanh thu của Tập đoàn Tata tăng lên gấp 7 lần, trung bình 22 tỷ USD/năm. Năm 2000, giá trị của tập đoàn đã tăng lên gần 18 lần với con số 49,1 tỷ USD. Nhưng đối với con người giàu tham vọng này, thị trường Ấn Độ vẫn là cái ao nhỏ hẹp cho sự phát triển của Tập đoàn Tata. Ông đã từng nói: “Chúng tôi bị ám ảnh với chính chúng tôi ở Ấn Độ. Vì vậy, có lúc tôi cảm nhận chúng tôi không cần hiện hữu ở đó nữa”. Chinh phục thế giới Tham vọng của Ratan Tata bắt đầu được thực hiện vào tháng 2/2000, khi Tata Tea mua lại Công ty Trà Tetley của Vương quốc Anh với giá lên đến 400 triệu USD. Đây là sự kiện đánh dấu thời kỳ Tata vươn ảnh hưởng của mình ra thế giới. Chỉ trong vòng từ năm 2000 - 2006, Tata đã tung ra tổng cộng 1,9 tỷ USD để tiến hành sáp nhập một loạt các công ty nước ngoài như Tetley Tea của Anh, Daewoo Commercial Vehicles của Hàn Quốc, NatSteel của Singapore, Khách sạn Pierre tại New York… và hàng chục hãng kinh doanh lớn nhỏ khác. Đặc biệt, Công ty Thép Tata của ông đã chiến thắng trong cuộc cạnh tranh giành quyền tiếp quản Nhà máy chế tạo Thép Corus liên doanh Anh - Hà Lan với giá đấu thầu 5.75 tỷ pound (11.3 tỷ USD). Đây là một sự kiện lớn trên thị trường thép thế giới. Tuy nhiên, sự kiện gây tiếng vang đưa tên tuổi Tập đoàn Tata vang trên thị trường thế giới chính là việc Tata giới thiệu chiếc xe ô tô Nano rẻ nhất thế giới với giá bán 100.000 Rupi (tương đương 2.500 USD). Chiếc xe này được thiết kế vô cùng giản tiện, nhằm giảm bớt chi phí, hạ giá thành để nhắm vào thị trường các nước đang phát triển, những nơi có mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhưng nhu cầu thì đang tăng cao. Ngay sau khi ra mắt, chiếc xe đã nhận được sự quan tâm và hưởng ứng nồng nhiệt của người dân Ấn, đồng thời hàng loạt tập đoàn ô tô lớn trên thế giới cũng vội vàng tuyên bố sẽ tham gia phát triển thị trường xe ô tô giá rẻ này. Tuy nhiên, điều thú vị là việc nghiên cứu và phát triển xe Nano của Tata lại hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong một lần trả lời phỏng vấn của phóng viên tờ báo danh tiếng Financial Times, nói về các dự tính trong tương lai của tập đoàn, Ranta Tata bất ngờ tuyên bố: “Chúng tôi đang nghiên cứu dòng xe siêu rẻ với giá bán 2.500 USD”. Mặc dù khi đó, Tata vẫn chưa có kế hoạch gì cho dòng xe này, ban lãnh đạo Tata nhận thấy đây là một ý hay nên họ quyết định bắt tay vào nghiên cứu. Và cuối cùng, sự kỳ vọng của Ranta Tata đã được đền đáp khi mẫu thử nghiệm của xe Nano đã thành công. Ratan Tata nói: “Tại Ấn độ, xe máy là phương tiện giao thông đại chúng. Bố lái xe, đứa lớn đứng đằng trước, đứa nhỏ và mẹ ngồi sau. Tôi muốn thay đổi hiện trạng này. Tôi muốn đem lại cho người Ấn một phương tiện giao thông an toàn hơn và không quá đắt”. Hiện nay, 1/3 tổng doanh thu của Tata là đến từ ngoài lãnh thổ Ấn Độ với con số lên đến 6,7 tỷ USD/ năm. Với tổng doanh thu 129 tỷ 994 triệu Rupi trong năm tài chính 2006 - 2007, và đạt con số 251 tỷ 487 triệu Rupi vào tháng 01/2008, Tập đoàn Tata đã có những bước đi vững chắc, đóng góp hơn 3% GDP Ấn Độ. Tuy nhiên, việc phát triển tập đoàn ra ngoài lãnh thổ quốc gia đã đặt Tata phải đối diện với nhiều vấn đề, trong đó sự cạnh tranh của các tập đoàn hàng đầu thế giới là không thể tránh khỏi. Vì thế, Ratan Tata biết rằng để có thể tồn tại trong thương trường thế giới đầy khắc nghiệt thì tập đoàn phải có kế hoạch phát triển bền vững dựa trên sự kết hợp giữa các chuẩn mực quốc tế và truyền thống, bản sắc của một doanh nghiệp Ấn Độ. Là một người hướng nội, hòa nhã và khéo léo, Ratan Tata đang được nhìn nhận như là một doanh nhân năng nổ và đầy tham vọng với tầm nhìn chiến lược trên phạm vi toàn cầu. Hướng đến cộng đồng Mặc dù Tata là một tập đoàn kinh tế phát triển bậc nhất Ấn Độ, song Ratan Tata lại không nằm trong số 40 doanh nhân Ấn Độ giàu có nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì tuy nắm quyền điều hành, nhưng gia đình Tata chỉ sở hữu 3% cổ phần của tập đoàn. 66% cổ phần thuộc về hai tổ chức từ thiện và 31% cổ phần còn lại được đưa ra thị trường chứng khoán. Tiếp nối truyền thống dòng họ, Ratan Tata rất quan tâm đến các hoạt động vì cộng đồng. Hằng năm, Tập đoàn Tata bỏ ra hơn 70 triệu Euro cho công tác nhân đạo và công trình phi lợi nhuận. Từ năm 1911, Tata đã thành lập Viện Nghiên cứu Khoa học Ấn Độ, rồi Viện Khoa học xã hội Tata (năm 1936) và Bệnh viện Tata (năm 1941) để chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Với những đóng góp của mình trong hoạt động về kinh tế và xã hội Ấn Độ, Ratan Tata đã được chính phủ trao tặng phần thưởng Padma Bhushan, một trong những phần thưởng công dân cao quí nhất Ấn Độ nhân ngày Quốc khánh 6/1/2000. Ông cũng được trao bằng Tiến sĩ Danh dự về công nghệ kinh doanh của Đại học Bang Ohio, bằng Tiến sĩ Danh dự về công nghệ của Viện Công nghệ châu Á - Bangkok, và bằng Tiến sĩ Danh dự về khoa học của Đại học Warwick.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1019_1308217278_Satoru-Iwata_3102_743_s.jpg
Nhà sáng tạo tài ba của Nintendo
Đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Tập đoàn Nintendo năm 2002, với tài năng thiên bẩm cùng sự sáng tạo tuyệt vời của mình, Satoru Iwata đã mang lại cho Nintendo những thành công nằm ngoài sự mong đợi. Năm 2006, lợi nhuận thực của Nintendo tăng 77,2%. Hơn 26,8 triệu sản phẩm của Nintendo được bán trong năm 2007. Giá trị cổ phiếu của Nintendo tăng gấp 5 lần trong vòng hơn 5 năm qua. Nintendo có giá trị đứng thứ 11 trên thị trường Nhật Bản năm 2007.
Cậu bé đam mê game Satoru Iwata sinh năm 1959, tại quận Hokkaido, Nhật Bản. Không giống như những ông chủ khác của Nintendo, những người không khởi nghiệp từ việc sản xuất trò chơi điện tử, chẳng hạn như Shigeru Miyamoto, ban đầu là một nhà thiết kế đồ họa, Iwata bộc lộ rất sớm niềm đam mê sáng tạo ra các trò chơi trên video. Nói như Hiroshi Yamauchi, Chủ tịch tiền nhiệm của Nintendo: “Iwata là một thiên tài đặc biệt, sở hữu những bản năng thiết kế game bẩn sinh. Anh ta có sự hiểu biết sâu sắc và kiến thức chắc chắn về sản phẩm phần cứng và phầm mềm của Nintendo. Điều đó rất cần có để tồn tại được trong môi trường kinh doanh như hiện nay”. Iwata đã thật sự đắm chìm trong việc viết các chương trình tin học cơ sở. Và trong suốt những năm trung học, Iwata đã tự tạo những trò chơi điện tử tại nhà như một sở thích đặc biệt. Ông tạo ra một vài trò chơi số đơn giản, và chúng được dùng như một chiếc máy tính điện tử. Sau đó ông mang những sáng chế của mình chia sẻ với các bạn học cùng lớp. Sau khi học xong trung học, Iwata ghi danh theo học tại một Trung tâm Kỹ thuật danh tiếng tại Tokyo. Tại đây, ông theo học chuyên ngành Khoa học máy tính. Chính trong môi trường này, chuyên môn kỹ thuật và tình yêu dành cho game đã dẫn dắt ông thẳng tới công nghệ video game. Dù Iwata luôn ấp ủ một niềm đam mê cháy bỏng đối với trò chơi video, nhưng gia đình ông vẫn không mấy tán thành việc ông tiếp tục theo đuổi sự nghiệp trong ngành công nghiệp sáng chế game ấy. Iwata đã từng kể lại rằng: “Có lần bố tôi không nói với tôi một lời nào trong suốt gần 6 tháng sau khi tôi gia nhập HAL. Có lẽ mọi người đã nghĩ rằng tôi đang gia nhập vào một tổ chức tôn giáo nào đó”. Ông cố gắng thuyết phục gia đình và quyết tâm theo đuổi niềm đam mê của mình. Iwata bắt đầu với công việc của một người viết chương trình trò chơi bán thời gian cho Công ty Liên hợp Thực nghiệm HAL. Cùng lúc đó, ông vẫn luôn theo đuổi việc học lên đại học. Năm 1982, Iwata chính thức làm việc toàn thời gian tại HAL. Satoru Iwata đã không mất nhiều thời gian để chứng minh rằng ông thật sự thuộc về ngành công nghệ trò chơi video. Trong những năm 80, Iwata tham gia vào nhiều dự án lớn của HAL. Với nhiều thành công liên tiếp, HAL đã mở rộng thêm cơ sở. Sau đó HAL bắt đầu phân chi nhánh hoạt động và Iwata được làm tại bộ phận công tác tự do. Ông chịu trách nhiệm viết chương trình cho một số game đang phát triển của đối tác NCL, trong số đó có Balloon Fight và NES Open Golf. Chỉ một năm sau khi tham gia HAL, Satoru Iwata bắt đầu kết hợp sản xuất phần mềm với việc phát triển nhiều danh hiệu do Nintendo xuất bản. Thời gian đó, Iwata giữ vai trò cực kỳ quan trọng tại một trong những chi nhánh danh tiếng nhất của Nintendo. Suốt thập niên 90, Satoru Iwata cũng chứng tỏ khả năng am hiểu sâu sắc về công nghệ video game. Ngay sau khi HAL gần như phá sản vào năm 1992, Iwata được chỉ định làm giám đốc của công ty. Nhiệm kỳ của Iwata kéo dài khoảng 7 năm, từ 1993 đến 2000. Trong suốt thời gian này, ông được xem như vị cứu tinh đã vực dậy HAL từ cơn khủng hoảng. Sự kiên quyết thay đổi để cứu HAL của Satoru Iwata không chỉ giúp bản thân HAL tồn tại mà còn tóm gọn lợi nhuận từ Hiroshi Yamauchi. Khi mọi việc đã bình ổn trở lại, nhiệm kỳ của Iwata tại HAL cũng kết thúc. Thành công của ông trở thành kinh nghiệm giúp ông trụ vững ở một vị thế rất cao trong NCL sau đó. Khẳng định tài năng tại NCL Vào năm 2000, Satoru Iwata chuyển từ HAL đến NCL. Công việc mới, ngay trực tiếp bên trong NCL, đã mang đến cho Iwata một cơ hội tốt hơn để thể hiện năng lực của mình. 18 năm kinh nghiệm của Iwata ở HAL đã chứng tỏ được giá trị của ông đối với Nintendo, đặc biệt là trong kế hoạch ra mắt hệ thống game mới nhất của công ty. Trước khi trở thành Chủ tịch của Nintendo, Iwata làm trưởng bộ phận kế hoạch của công ty này, chịu trách nhiệm về kế hoạch hợp tác cho Nintendo trên toàn cầu. Ông còn đảm nhận vai trò chủ chốt trong việc hoạch định chiến lược của công ty trong cả trước và trong suốt thời gian ra mắt máy chơi game GameCube vào năm 2001. Đặc biệt là tầm nhìn của Iwata về phát triển thuần nhất, các sản phẩm “vui để chơi” đã giúp cho Nintendo đạt mức lợi nhuận gây sốt đến 41% với 953 triệu USD, và mức doanh thu lên đến 4.4 tỉ USD vào cuối năm tài chính 2001. Các con số này có được là nhờ mức tăng bán hàng 20% vào năm trước. Trên cơ bản, thành công vang dội của Iwata trong Phòng Kế hoạch Nintendo đã khiến ngài Chủ tịch tiền nhiệm của công ty này, ông Hiroshi Yamauchi, không ngần ngại chọn Iwata làm người kế vị. Một buổi chiều tháng 5 năm 2002, Iwata được triệu tập tới văn phòng của Hiroshi Yamauchi. Hai giờ sau, Yamauchi đã thuyết trình cho Iwata những thách thức mà ông ta đã đối mặt trong gần nữa thế kỷ ông làm chủ tịch Hãng Nintendo. Yamauchi đã giải thích rất chi tiết, làm cách nào ông ta đã đã chiến thắng những thách thức này và thay đổi Nintendo từ một nhà sản xuất thẻ chơi game trở thành một trong những tập đoàn giải trí có thế lực nhất thế giới. Trong các cuộc phỏng vấn sau đó, Iwata nói rằng ông nghĩ mình sẽ bị Yamauchi đuổi việc. Nhưng sự thật thì hoàn toàn ngược lại, Yamauchi đã quyết định chọn Satoru Iwata là người kế nhiệm. “Theo những kinh nghiệm tôi có được từ khi đảm nhận cương vị chủ tịch Nintendo, bạn cần phải có một tài năng đặc biệt để lãnh đạo một công ty trong ngành công nghiệp này. Về lâu dài, tôi không biết liệu Iwata sẽ duy trì được vị trí hiện tại của Nintendo hay còn dẫn dắt công ty tiến lên một bậc cao hơn. Nhưng ít nhất tôi tin tưởng anh ta là người tốt nhất cho vị trí này. Lý do mà Iwata đã được chọn là sự hiểu biết và kiến thức của anh ta về sản phẩm phần cứng và phầm mềm của Nintendo”, Hiroshi Yamauchi cho biết. Sau cuộc gặp với Yamauchi, Satoru Iwata trở thành vị chủ tịch mới của Nintendo. Hiroshi Yamauchi sau đó trở thành cố vấn ban giám đốc, vị trí mà ông vẫn đảm đương tới ngày nay. Năm 2004, mặc dù Satoru Iwata chỉ mới điều hành công ty hơn 2 năm, nhưng ông đã có những hành động rất rõ ràng. Iwata được xem như người cầm lái đưa Nintendo thoát khỏi sự đeo bám của các công ty khác (như Sega, Namco và Capcom), đồng thời ông cũng là người giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển phần mềm của GameCube. Iwata là người xoay chuyển vận mệnh của Nintendo. Vào đầu những năm 1990, Nintendo dẫn đầu thị trường toàn vầu về trò chơi điều khiển bằng tay. Nhưng nó nhanh chóng rơi khỏi vị trí đó bởi sự xuất hiện của PlayStation và tiếp sau đó là Xbox. Trong năm 2002, khi Iwata trở thành vị chủ tịch thứ tư, Gamecube của Nintendo đã rớt xuống hàng thứ ba, sau Sony và Microsoft. Dưới sự điều hành của Iwata, Nintendo hiện đang dẫn đầu, vượt mặt hai đối thủ PlayStation của Sony và Xbox của Microsoft. Lợi nhuận thực của Nintendo đã tăng 77,2% trong năm 2006. Có hơn 26,8 triệu sản phẩm của Nintendo được bán trong năm 2007. Giá trị cổ phiếu của Nintendo tăng gấp 5 lần trong vòng hơn 5 năm qua. Năm 2007, Nintendo có giá trị thứ 11 trên thị trường Nhật Bản. Nintendo đã củng cố được một thị trường rộng lớn. Dreamiland - Sự khởi đầu hoàn hảo Gần 3 thập niên qua, Satoru Iwata đã dành hết thời gian của mình cho công việc với vai trò là người lập trình một số trò chơi (ngay khi độc lập hay thuộc về HAL đến NCL). Sáng tạo đáng chú ý nhất của ông là loạt sản phẩm trò chơi Kirby. Trong đó, Satoru Iwata là người sáng tạo game, và Masahiro Sakurai là người phát triển các nhân vật của Kirby và các khái niệm cơ sở cho game này. Những đóng góp của Iwata vào dự án này là không nhỏ để làm nên danh tiếng cho dòng sản phẩm này. Dreamland của Kirby là trò chơi khởi đầu cho tất cả. Phát minh này được thiết kế riêng cho những người mới bắt đầu chơi, vì game thủ ở mọi cấp độ đều có thể chơi đến cảnh cuối cùng. Dreamland được tung ra ở Nhật vào ngày 27/04/1992 và xuất hiện ở Mỹ vào tháng 8 năm đó. Sau hàng loạt thành công vang dội của Kirby, danh tiếng của Satoru Iwata được nhiều người biết đến. Hơn một thập kỷ tiếp theo, Iwata giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển các game quan trọng nhất của Nintendo. Đặc biệt trong suốt kỉ nguyên GameCube, vai trò của Iwata trong việc phát triển các game mới nâng cao vượt bậc. Ông có trách nhiệm phát triển các game như Super Mario Sunshine, Star Fox Adventures, Metroid Prime, Eternal Darkness - Sanity"s Requiem, Animal Crossing và The Legend of Zelda - The Wind Waker. Tuy nhiên thời gian gần đây, việc phát triển những trò chơi ngày càng trở nên đắt tiền và như một hậu quả tất yếu, cả ngành công nghiệp này đang đi xuống. Iwata cảm thấy người chơi không còn ngạc nhiên hay hứng thú với hình họa 3D như trước đây. Với những suy nghĩ đó, Iwata đã đề ra 2 mục đích: rút ngắn thời gian và tiền bạc phát triển trò chơi, tập trung tạo ra những kinh nghiệm chơi game mới cũng như thổi một làn gió mới vào những ý tưởng đang hiện có. WII - Bước ngoặt thành công Bằng sự nhạy bén, Satoru Iwata đã vạch ra hàng loạt chiến lược phát triển mới. Trong khi rất nhiều hãng sản xuất game video hướng tới những hình ảnh đồ hoạ phức tạp, tinh vi dựa trên những hệ máy tốc độ cao, mạnh mẽ thì Nintendo lại mở rộng lượng khách hàng của mình bằng cách cung cấp những game dễ chơi và dễ truy cập. Iwata đã không nhắm vào những game thủ chuyên nghiệp như các đối thủ Microsoft và Sony, sản phẩm của Nintendo hy vọng sẽ mở rộng thị trường bằng cách thu hút thêm nhiều game thủ mới “vào nghề”. Bên cạnh việc thu hút các game thủ "cứng cựa" (chủ yếu là nam giới), Nintendo đã tiến thêm một bước, bắt đầu chinh phục được số đông công chúng - bao gồm cả phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi. Hàng loạt sản phẩm game được lên kế hoạch thiết kế, sản xuất sau đó. Đáng chú ý nhất trong số đó là sản phẩm máy game thế hệ mới - Wii. Ngay khi chưa được trình làng, sản phẩm này đã ẵm gọn 2 giải thưởng lớn nhất: màn trình diễn ấn tượng nhất và thiết bị hay nhất. Không chỉ dừng lại ở đó, Nintendo còn kiếm được thêm 3 danh hiệu khác cho các sản phẩm phần mềm là: Trò chơi trên máy cầm tay hay nhất (The Legend of Zelda: Phantom Hourglass cho Nintendo DS), Game thể thao hay nhất (Wii Sports), và Game đua xe hay nhất (Excite Truck trên máy Wii). Wii khác với những đồ chơi điều khiển khác ở chỗ nó được trang bị công nghệ theo dấu, cho phép những người chơi tương tác về mặt vật lý với những hình ảnh trên màn hình. Điểm nổi bật của Wii là sử dụng thiết bị điều khiển, cho phép game thủ điều khiển mọi hành động trên màn hình bằng cách chuyển động thiết bị thay vì gắn chặt đôi bàn tay vào bộ điều khiển game và bấm nút. Vì vậy “Wii sẽ phá bỏ mọi ranh giới giữa game thủ với những người bình thường. Wii sẽ giúp cho người ta chơi game dễ dàng, họ có thể thực sự đánh nhau với những đối thủ hay đánh vợt tennis”, Iwata cho biết. Game Wii của Nintendo đã được ra mắt thị trường Mỹ vào tháng 11 năm 2006. Với giá bàn cực “hot” 250 USD (rẻ hơn dòng PS3 cao cấp 600 USD của Sony và Xbox 360 400 USD), Nintendo Wii đã nhanh chóng cháy hàng trước sự chào đón của hàng nghìn game thủ đứng, ngồi, xếp hàng tại các cửa hàng. Một số người khác còn cắm trại qua đêm để chờ mua những model mới nhất của Nintendo. “Tại cửa hàng bán lẻ Toys ở Quảng trường Times, hàng nghìn người xếp hàng để mua Wii. Vì thế, Nintendo Wii vừa được nhập về đã bán hết sạch”, Perrin Kaplan - Phó Chủ tịch của Nintendo tại Mỹ nói. Với chính sách "đại trà hóa video game" và "dụ dỗ người chơi mới", Iwata đang chứng tỏ được sự thành công vượt trội. Cả Wii lẫn chiếc máy chơi game cầm tay DS Lite đều đang "bay vù vù" từ kệ hàng vào túi người dùng. Chỉ trong vòng 8 tháng sau khi ra mắt thị trường, mọi chi phí mà Nintendo bỏ ra để thiết kế, phát triển và sản xuất Wii đã được hoàn vốn và công ty bắt đầu có lãi. Đây quả là một thành tích ấn tượng. Kể từ khi ra đời đến nay, Wii đã gây ra một cơn sốt trên thị trường game console thế giới với hơn 25 triệu sản phẩm được tiêu thụ. Thừa thắng xong lên, Nintendo đặt ra mục tiêu phải tiêu thụ được 50 triệu sản phẩm Wii vào giữa năm 2009. Nhờ có thành công to lớn của Wii, lợi nhuận mà Nintendo thu được trong năm tài chính 2007 đã tăng tới 50%, đạt 2,5 tỷ USD. Tổng doanh thu của Nintendo năm 2007 là 16,2 tỷ USD. Không bằng lòng với những gì đang có, Satoru Iwata cho biết: “Mục tiêu kinh doanh mà chúng tôi nhắm đến trong thời gian sắp tới là biến Wii từ một sản phẩm không thể thiếu đối với mỗi gia đình thành sản phẩm không thể thiếu đối với mỗi cá nhân”. Để đạt được mục tiêu đó, Iwata cùng Nintendo sẽ liên tục tung ra những phần mềm game mới có một không hai cũng như những dịch vụ hấp dẫn, nhằm mang đến lợi ích tối đa cho người sử dụng. Đặc biệt, dưới sức ép của các đối thủ ngày càng lớn mạnh, Nintendo cần phải sáng suốt khi đưa ra những chiến lược phát triển của mình. Điều đó cần đến tài năng và bản lĩnh của vị chủ tịch chưa đầy 50 tuổi: Satoru Iwata.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1040_1308217010_Martha-Stewart_3118_582_s.jpg
Bà hoàng thép của truyền thông Mỹ
Là nữ doanh nhân dày dạn kinh nghiệm trên thương trường và có sức quyến rũ lớn đối với công chúng Mỹ, Martha Stewart từng được mệnh danh là "Nữ hoàng kinh doanh kiểu mẫu ở Mỹ", nhân vật một thời được xem là thần tượng trong giới đầu tư chứng khoán của quốc gia này.
Martha Helen Kostyra sinh ngày 3/8/1941 tại thành phố Jersey, N.J trong một gia đình người Mỹ gốc Ba Lan. Tuổi thơ của Martha phải trải qua những tháng ngày nghèo khổ ở căn hộ chật chội vùng ngoại ô Nenwark. Năm 1961, Martha kết hôn với một sinh viên luật - Andrew Stewart. Dù cuộc sống khốn khó, Martha luôn nỗ lực quyết chí học hành và đã tốt nghiệp cử nhân khoa lịch sử và lịch sử kiến trúc tại Trường Cao đẳng Barnard vài năm sau đó. Bắt đầu từ năm 1968, Martha làm việc tại thị trường chứng khoán phố Wall như một người buôn bán chứng khoán thực thụ. Martha Stewart đã cho xuất bản cuốn sách đầu tay của mình mang tên ""Entertaining"". Kể từ sau khi hôn nhân tan vỡ năm 1990, Martha lại gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp của mình. Làm việc trong ngành chứng khoán, Martha may mắn tìm được môi trường để giới thiệu những sản phẩm làm đẹp nhà cửa trên chương trình truyền hình. Năm 1991, Martha cho ra đời cuốn tạp chí Cuộc sống của Martha Stewart và làm MC của chương trình ""Today"" với hãng truyền hình NBC. Đến năm 1993, chương trình ""Martha Stewart Living"" cũng chính thức ra mắt bạn xem truyền hình của Mỹ. Năm 1997 Martha mua lại tổ hợp Time và thiết lập ra tập đoàn riêng của mình - Martha Stewart Living Omnimedia. Những sản phẩm Martha giới thiệu trên truyền hình do công ty bà sáng lập sản xuất gồm nhiều mặt hàng gia dụng chất lượng tốt. Vài sản phẩm tiêu biểu là những tấm khăn trải giường, sơn nhà và đồ dùng trong bếp, trang hoàng nhà cửa. Doanh thu của tập đoàn này cao đến mức chóng mặt, đem lại cho Martha hàng trăm triệu USD lợi nhuận. Nhờ khả năng đàm phán cũng như sau những thành công liên tiếp, Martha Stewart đạt nhiều hợp đồng lớn mang lợi nhuận đáng kể cho công ty Martha Stewart Living Omnimedia Inc. Sản phẩm của Martha Stewart được bày bán tại tất cả các chi nhánh khắp nước của công ty bán lẻ K-Mart. Doanh thu bán lẻ của sản phẩm mang hiệu Martha đạt 27 triệu USD trong cả năm 2002. Những quyển tạp chí về đời sống nói chung (Martha Stewart Living) hay liên quan đến trẻ em tuổi vị thành niên (Martha Stewart Kids) và đến các em bé (Martha Stewart Baby) là những “con gà đẻ trứng vàng” của Martha. Tổng doanh thu từ quảng cáo chỉ trong 6 tháng cũng có thể đem lại cho Martha khoảng 90,4 triệu USD. Ngoài ra, kinh doanh từ việc bán hàng trên Internet cũng mang lại lợi nhuận lớn cho Martha, có lúc lên đến 15,1 triệu USD. Khó ai có thể phủ định những thành công lớn liên tiếp của hãng Martha Stewart Living Omnimedia Inc là nhờ vào cá tính và sự nổi tiếng của người sáng lập, Martha Stewart. Stewart đã trở thành con người đầy quyền lực và được coi là người có tiếng nói trên mọi phương tiện truyền thông mà bà tham gia. Cái tên của Martha Stewart trong mắt giới chuyên gia và những người hâm mộ tài năng kinh doanh của bà cũng đồng nghĩa với một người phụ nữ “hoàn hảo”, hay ít ra là gần với giá trị “hoàn hảo” nhất. Đang ở trên đỉnh cao của vinh quanh thì bất ngờ năm 2002, nữ doanh nhân tài năng này đã dính vào vụ bê bối tài chính và đến năm 2004, bà bị kết án 5 tháng tù giam do gian lận trong kinh doanh và buôn bán cổ phiếu. Bất chấp cuộc tranh luận về pháp lý trong suốt 5 năm của Stewart sau khi bị kết tội kinh doanh bất hợp pháp do có “tay trong”, bà đã chứng minh bằng một tiểu sử thành công về sự trở lại của mình. Sau khi ra tù, Stewart chỉ mất một thời gian ngắn đề giành lại vị trí “đình đám” của mình trên thị trường truyền thông, với hai chương trình truyền hình: The Apprentice, mô phỏng chương trình The Apprentice của tỷ phú Donald Trump, và Martha Stewart, một chương trình giải trí phát ban ngày, chuyên về ẩm thực, trang trí nội thất, chăm sóc vườn tược .... Là ngôi sao của các ấn phẩm và sản phẩm về lối sống, trang trí nội thất, nấu ăn, tháng 10/2006, bà đã cho ra một cuốn sách mang tên Các quy tắc của Martha, trong đó trình bày 10 bí quyết của Martha trong việc hình thành và quản lý một doanh nghiệp mới. Bà cũng ký hợp đồng thiết lập một kênh truyền thanh qua vệ tinh với hãng Sirius, xuất bản một loạt DVD gia đình, và sắp xây dựng các khu nhà ở mang thương hiệu Martha Stewart. Khôi phục sự nghiệp nhanh chóng và lấy lại danh tiếng cho mình cùng việc làm dày lên ví tiền với khối tài sản hiện tại ở mức 638 triệu USD, Martha Stewart thật không hổ danh “người đàn bà thép” của làng truyền thông.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
1041_1308216985_Kenneth-Griffin_3119_732_s.jpg
Huyền thoại của nước Mỹ
Trẻ trung nhưng trong thế giới tài chính Kenneth Griffin đã là huyền thoại. Vào năm 1986, ở tuổi 18, đang là sinh viên năm thứ nhất Đại học Harvard, Griffin đã tham gia thị trường chứng khoán. Sau đó 17 năm – năm 2003, lần đầu tiên Griffin xuất hiện trong danh sách những người giàu của Mỹ của tạp chí Forbes với khối tài sản 650 triệu USD. Đến năm 2006, tài sản của Griffin được đánh giá là 1,7 tỉ USD, còn năm 2008 là 3 tỉ USD.
1 triệu USD đầu tiên Kenneth Griffin sinh ngày 15.10.1968 tại Florida, Mỹ. Ngay từ nhỏ Griffin đã mê say máy vi tính và toán học. Người mẹ của nhà tỉ phú tương lai nhớ lại, khi Ken (tên thân mật của Kenneth) còn nhỏ, cậu hay đòi mẹ dẫn đến cửa hàng Computerland. Tại đây Ken “tra tấn” những người bán hàng bằng nhiều câu hỏi về chiếc máy vi tính. Khi học phổ thông trung học Ken luôn mày mò với chiếc máy vi tính IBM và nếu tìm ra những khiếm khuyết của nó thì đối với cậu bé đây là thắng lợi. Một người bạn học nhớ lại: “Ken thường thích tiếp xúc với những người lớn tuổi hơn mình và luôn biết mình cần gì trong cuộc sống. Cậu ta luôn phát kiến ra những ý tưởng mới”. Một trong những ý tưởng được hiện thực hóa là việc Ken thành lập hãng Diskovery Educational Systems, chuyên bán phần mềm trong lĩnh vực giáo dục. Khi đó Ken mới 17 tuổi và đến nay hãng này vẫn hoạt động tốt. Hoạt động đầu cơ được Griffin thực hiện giữa những kỳ nghỉ từ khi còn học ở Harvard (Griffin chỉ học 3 năm là xong chương trình đại học). Khởi đầu, Griffin hỏi vay của mẹ, bà ngoại và “hai nhà đầu tư” quen biết tổng cộng 265 ngàn USD rồi thành lập hai quỹ đầu cơ. Ngồi trong gian phòng tại ký túc xá Cabot House để điều hành các quỹ, chàng sinh viên còn mắc cả chảo vệ tinh bên cửa sổ phòng mình để thu thập những tin tức mới nhất về TTCK. Sau đó một tháng, thị trường bị chao đảo vì khủng hoảng (1987), cũng là lúc Griffin kiếm được những khoản tiền lớn. Đến khi tốt nghiệp, Griffin đã có 1 triệu USD đầu tiên trong tay. Cùng với tấm bằng kinh tế, Griffin còn được tặng món quà khác: Công việc của nhà kinh tế trẻ tuổi thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư (NĐT) danh tiếng người Chicago là Frank Meyer – lãnh đạo Quỹ Glenwood Capital. Meyer đưa cho Griffin 1 triệu USD và đề nghị thử xem có lặp lại thành tích kinh doanh khi còn là sinh viên bằng cách nhân số vốn này lên gấp đôi. Griffin đã thực hiện nhanh chóng khi có phần mềm vi tính dành cho kinh doanh tại TTCK. Người xây dựng thành trì Sau những thành công sáng chói của Griffin được nhiều người biết đến, hàng chục NĐT đã đưa tiền cho Griffin với hy vọng con người tài ba này sẽ làm cho số vốn của họ sinh lời. Kết quả là vào ngày 1.11.1990, Griffin thành lập Quỹ Citadel với số vốn 4,2 triệu USD. Cái tên Citadel (Thành lũy) mà Griffin chọn không phải là sự ngẫu nhiên mà đó là sự khẳng định sức mạnh của hãng trong giai đoạn khủng hoảng. Trong 2 năm đầu tiên quỹ hoàn toàn đáp ứng với kỳ vọng của các NĐT. Năm 1991 lợi nhuận đạt 43%, năm 1992 – 40,7% và năm 1993 – 23,5%. Tuy nhiên đến năm 1994 do thị trường tín phiếu khủng hoảng nên Citadel thua thiệt 4,3%. Các NĐT lo lắng bắt đầu lấy lại tiền và đây là giai đoạn khó khăn nhất của Griffin. “Ken khi đó nói với tôi là không thể để tình trạng tương tự lặp lại” – Meyer nhớ lại. Thất bại chỉ hun đúc thêm ý chí của Griffin. Một trong những cộng sự của nhà tỉ phú kể lại: Griffin khi đó thường ngồi lì trong phòng, đọc cuốn Nhà nước của Niccolo Machiavelli (1469 - 1527) và đọc nhiều sách quản trị kinh doanh để tránh những sai sót cho Quỹ Citadel. Đặc biệt, ông rất thích đọc các tác phẩm của bậc thầy về lý thuyết kinh doanh Jim Collins. Bất kỳ sự mạo hiểm nào, Griffin đều thuê các nhà tư vấn để họ cho ý kiến. Ông xây dựng cơ cấu cho Citadel với nguyên tắc “không thể không thay thế”. Tại Citadel có rất nhiều chuyên gia làm việc với cùng một chức năng, vì thế nếu ai đó ra đi thì cũng không ảnh hưởng đến công cuộc kinh doanh. Citadel đã trở thành một thành lũy khó có thể đánh bại khi cách đây vài năm sở hữu tòa nhà 37 tầng tại Chicago. Trong điều hành Citadel, Griffin ứng dụng toán học và công nghệ thông tin cực kỳ hiệu quả. Quỹ Kensington Global thuộc Tập đoàn Citadel trong vòng 9 năm trở lại đây trung bình mang lại lợi nhuận cho các NĐT 22%/năm. Ngoài Kensington Global, Citadel còn một quỹ lớn khác là Wellington hoạt động cũng rất hiệu quả. Hiện các chuyên gia ước tính, Citadel chiếm 2 – 3% tổng lượng giao dịch của TTCK ở New York, London và Tokyo, 10% thị trường trái phiếu chính phủ… Sống theo cách của mình Thông minh, giàu có, nhưng Griffin lại bị đồng nghiệp đánh giá là không có tình cảm và là người độc tôn. Ông sẵn sàng trả cho những người quản lý tài ba của mình mức lương 5 triệu USD/năm, nhưng nhất định không chịu chia sẻ quyền lực bằng cách nhượng quyền cổ phiếu của quỹ. Thậm chí, khi hết hạn hợp đồng thì Griffin chia tay với họ không hề thương tiếc. Người ta nói rằng, trong phòng của mình Griffin dành một chỗ cho trợ lý là Jodi Deichmiller, nhưng cô này lại giao tiếp với ông bằng e-mail để không làm ảnh hưởng đến sự tập trung của sếp. Tựu trung những người độc miệng nói Griffin là người ích kỷ, lạnh lùng, luôn khép kín và không có trái tim. Công bằng mà nói thì Griffin không hẳn là người như vậy. Mới đây nhất ông trở thành thành viên Ban tổ chức Olympic 2016 tại Chicago. Người ta đồn rằng chẳng qua là ông muốn nhân sự kiện này để đánh bóng hình ảnh của Citadel. Song nguyên nhân sâu xa lại đơn giản hơn người ta tưởng: Vào năm 2004, Griffin làm lễ thành hôn với Anne Dias – người sáng lập Quỹ đầu tư Aragon Global Management với số vốn 100 triệu USD (đây là một trong những quỹ tư nhân lớn nhất Mỹ do phụ nữ điều hành). Tại lễ đám cưới, Griffin đã khóc vì quá hạnh phúc. Điều này không phù hợp với tính cách của ông, làm nhiều người tham dự không thể nào tin nổi vào mắt mình. Những người thân của Griffin nói rằng, chính Anne Dias đã buộc ông phải thường xuyên xuất hiện nơi công chúng hơn và xử sự có nhân tính hơn. Griffin là người khá chịu chơi. Đám cưới của ông với Anne Dias được tổ chức tại Lâu đài Versailles ở Pháp. Để làm vui lòng quan khách, ông mời đoàn xiếc danh tiếng Cirque du Soleil và nữ ca sĩ nhạc pop danh tiếng Donna Summer đến biểu diễn. Griffin rất yêu thích các xe hơi thể thao đắt giá. Ông mua biệt thự ở North Michigan Avenue, Chicago vào năm 2000 với giá 6,9 triệu USD. Bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật của Griffin khó mà định giá. Ông hào phóng bỏ ra 60,5 triệu USD để mua bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Pháp Paul Cézanne, hay 80 triệu USD để mua tác phẩm của họa sĩ Mỹ Jasper Johns. Số tiền mà Griffin bỏ ra mua tranh của Paul Cézanne đạt kỷ lục từ trước đến nay đối với danh họa này. Bên cạnh những thú vui xa hoa, Griffin cũng thích các trò chơi đơn giản. Đặc biệt ông rất thích chơi bóng đá. Tuy nhiên trong vòng 7 năm gần đây, chiếc đầu gối của nhà tỉ phú này đã phải giải phẫu đến 5 lần vì chấn thương, buộc Griffin phải giã từ bóng đá. Không chỉ hào phóng với cá nhân mình, Kenneth Griffin còn tích cực giúp đỡ cộng đồng. Ông là thành viên của vài tổ chức từ thiện và là Giám đốc Quỹ giáo dục cộng đồng Chicago. Vào năm 2006, Quỹ Griffin đã xây dựng trường trung học ở Chicago, tài trợ cho bệnh viện nhi, Dàn nhạc giao hưởng Chicago cùng nhiều hoạt động khác... Trẻ trung và thành đạt, rộng lượng và độc đoán, khắt khe và hào phóng, lạnh lùng và nồng ấm… dường như Griffin là người chứa đựng những tính cách mâu thuẫn. Ông sống giữa sự thán phục thầm lặng và sự công kích ầm ĩ của nhiều người. Phải chăng chuẩn mực của cuộc sống là “chiếc áo quá khổ” với nhà tỉ phú tài ba? Suy cho cùng ông sống theo cách của mình và chỉ làm điều tốt cho xã hội. Đó mới là điều quan trọng nhất trong cuộc đời của một con người.
- Theo Thanh Niên Tuần San Online.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
942_1308218243_Igvar-Kamprad--Ti-ph_3041_451_s.jpg
Lâu nay vẫn có không ít ý kiến cho rằng, tỉ phú Igvar Kamprad chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành người giàu nhất thế giới, bởi ông là người rất giỏi trong kinh doanh, nhưng cũng lại rất keo kiệt...Keo kiệt với chính mình Nhiều người cho rằng Igvar Kamprad, 82 tuổi, sẽ qua mặt Bill Gates hay Warren Buffett,để độc chiếm vị trí thứ nhất trong top người giàu, vì hãng đồ gỗ IKEA của ông hoạt động khá lặng lẽ, nhưng rất hiệu quả. Hơn thế nữa, tỉ phú Kamprad là người không háo danh và hết sức keo kiệt. Cuộc tranh luận về sự giàu có của Kamprad lên đến đỉnh điểm cách nay 4 năm, khi nhật báo Veckans Affärer của Thụy Điển xếp ông là người giàu nhất thế giới. Các nhà quản lý của IKEA nói rằng, Kamprad chính thức không còn là lãnh đạo của hãng, chính vì thế giá trị của hãng không thể cộng vào với tài sản của ông. Tuy nhiên báo Economic của Anh lại đưa ra bằng chứng Kamprad và các thành viên gia đình ông vẫn kiểm soát IKEA thông qua mô hình khá phức tạp là công ty “mẹ” và công ty “con”. Người ta nhận định, ít nhất tài sản của Kamprad cũng phải hơn 30 tỉ USD. Cuộc tranh luận không có hồi kết, nhưng không ai có thể đưa ra chính xác con số về tài sản của tỉ phú này. Trước đó, từ năm 1976, nhân vật trung tâm của các cuộc tranh cãi đã cùng vợ là Margaret chuyển qua sinh sống ở Lausanne, Thụy Sĩ. Ngôi nhà của hai vợ chồng ông gần một ngã tư đường không có gì đặc biệt. Phía bên ngoài là hàng rào loại thường cao khoảng 2 mét. Bên trong không có hồ bơi, không có chuồng ngựa với những con ngựa quý hiếm. Ở đó chỉ có chiếc Volvo màu xanh – xám được sản xuất từ năm 1993. Phía bên kia của ngôi nhà trông ra hướng hồ Geneva. Có lẽ vợ chồng Kamprad sang Thụy Sĩ sinh sống không phải vì thiên nhiên đẹp, mà bởi Lausanne là “thiên đường trốn thuế”. Nơi đây quy tụ những người giàu có, danh tiếng như doanh nhân, nghệ sĩ, vận động viên thể thao. Dọc bên hồ Geneva là nơi trú ngụ của hai cựu tay đua F1 là Michael Schumacher, Alain Prost, hay nữ ca sĩ Shania Twain, nhạc sĩ kiêm ca sĩ Phil Collins... Tại đây, người nước ngoài có thể thỏa thuận mức thuế với chính quyền sở tại mà không phụ thuộc vào thu nhập của mình. Thông thường thì mức thuế tại Lausanne thấp chỉ bằng 1/5 so với các quốc gia khác. Hơn thế, nếu Kamprad sống ở Thụy Điển, thì ông phải nộp gần 70% tiền thuế từ thu nhập của mình. Theo những người dân địa phương, vợ chồng Kamprad không gây ấn tượng họ là những người cực kỳ giàu có. Họ chỉ có một người vệ sĩ và sống khép kín. Chủ nhân của ngôi nhà tự mình đi mua sắm tại trung tâm thương mại và trả giá đến tuyệt vọng. “Tôi là người hà tiện – Kamprad luôn yêu thích nhắc lại câu nói này – Tôi tự hào vì điều này”. Chưa ai thấy Kamprad đến dự một sự kiện nào tại đây hay ghé vào một nhà hàng. Ngay cả báo 24 giờ nơi ông sinh sống cũng không có lấy một tấm ảnh vợ chồng Kamprad nhân sự kiện nào đó, cho dù họ đã sống ở đây hơn 30 năm. Mùa hè và mùa thu Kamprad thường đi tàu lửa loại vé hạng thường để đến Pháp, nơi ông có sở thích đặc biệt là uống rượu nho. Ông tự cho phép mình uống hết ly này đến ly khác để trò chuyện cùng những thợ mộc người Ba Lan mà ông biết từ thập niên 1950. Những bài học vô giá Hãng IKEA do Igvar Kamprad thành lập vào năm 1943 tại một kho chứa đồ bị bỏ hoang. IKEA được ghép từ IK (có nghĩa là người sáng lập) và từ viết tắt của Elmtaryd trang trại nơi Kamprad sinh ra. Khi đó Kamprad mới 17 tuổi. Chàng trai trẻ vừa đi học vừa kinh doanh. Bài học đầu tiên từ thực tế mà Kamprad rút ra là: Nếu mua một lô hàng với giá ưu đãi, sau đó bán lẻ với giá cao hơn chút ít thì sẽ có lời. Một người cùng làng đến thủ đô Stockholm có công việc, Kamprad nhờ người này mua vở, bút chì, diêm... sau đó đem về bán lại trong làng hay cho những bạn học ở trường. Bài học thứ hai chàng trai trẻ rút ra là: Nếu trực tiếp mời mọc ai đó mua hàng thì sẽ nhận được phản ứng thụ động. Tốt hơn hết là phải xuất phát từ chính nhu cầu của họ. Kamprad nhận các đơn đặt hàng của các làng nơi đây, rồi thông qua bưu điện để mua hàng từ những chỗ khác về cho họ. Nhưng đến bài học thứ ba của Kamprad thì đó là “cuộc cách mạng” thực sự. Nhà tỉ phú tương lai bắt đầu quảng cáo hàng hóa của mình trên báo địa phương và tự gửi các catalogue do chính mình làm đến khách hàng. Cứ như thế Kamprad buôn bán hàng tạp hóa như bút, ví, tất, đồ chơi trẻ em... cho đến khi 19 tuổi. Sau này, Kamprad buôn bán vài mặt hàng đồ gỗ. Do thấy lợi nhuận cao, hàng chạy nên vào năm 1953, ông thành lập cửa hàng đồ gỗ đầu tiên của mình tại thành phố Elmhult, Thụy Điển. Điểm mới của cửa hàng là trước khi đặt hàng, khách có thể ngắm xem, thậm chí còn thử cả đồ gỗ xem chúng có hợp với mình hay không. Thời gian hoàn thành đơn đặt hàng cũng rất nhanh. Công việc quá thuận lợi, đến nỗi 2 năm sau đó, hiệp hội các nhà sản xuất đồ gỗ và các nhà thiết kế kiện Kamprad bán phá giá và yêu cầu ông ngừng kinh doanh. Kamprad không đồng ý nên bị các nhà cung cấp hàng tẩy chay. Khi đó ông thuê các nhà thiết kế riêng để họ tạo mẫu mã đồ gỗ mang thương hiệu IKEA. Vào năm 1955 ông đến Ba Lan để xây dựng nhà máy đồ gỗ vì ở đó giá thành rẻ hơn tại Thụy Điển. Và đó chính là bước khởi đầu để IKEA chuẩn bị bước ra thế giới. Không có thời gian để chết Một trong những câu chuyện về thành công của IKEA là vào năm 1956, nhân viên thứ 4 của hãng - Lundgren mới được thuê loay hoay mãi không nhét được chiếc bàn gỗ vào xe chở của chủ hàng. Lundgren bèn nảy ra sáng kiến tháo bộ chân ra, sau đó đến nhà chủ lắp vào. Quan sát sự việc, Kamprad nảy ra ý tưởng dùng các thùng các-tông chở đồ gỗ tháo rời, sau đó đến nhà khách hàng để lắp vào. Vừa kinh tế lại vừa thuận tiện. Người sáng lập IKEA luôn khuyến khích mọi nhân viên sáng tạo. Ông nói: “Chỉ có ai ngủ mới không gây ra lỗi lầm”. Bên cạnh đó ông luôn giữ phương châm đồ của IKEA luôn rẻ hơn của đối thủ, nếu chất lượng là ngang bằng. Với nhân viên mọi người đều như nhau, không ai được đặc quyền ưu đãi. Ông không khuyến khích họ mặc bộ đồ vét đeo cà vạt. Ông ăn mặc giản dị và thuộc loại người “hà tiện còn hơn là vứt tiền qua cửa sổ”. Cứ như thế, IKEA liên tục mở rộng thị trường và cửa hàng đầu tiên của hãng được mở tại Na Uy vào năm 1963. Sau 10 năm IKEA vươn ra khỏi bán đảo Scandinavia, đến năm 1974 thì xâm nhập Đức. Hiện IKEA có khoảng trên 270 cửa hàng tại 35 quốc gia trên thế giới. Công bằng mà nói thì Kamprad cũng làm từ thiện, nhưng cũng khá tính toán. Chẳng hạn cứ mỗi bộ sản phẩm IKEA bán ra, sẽ có 1 USD trích ra cho Quỹ UNICEF của Liên Hiệp Quốc. Bằng cách này ông trao cho UNICEF khoảng 2 triệu USD cách nay 2 năm. Hay trước đó là chút ít tiền cho nạn nhân sóng thần... Còn tại ngôi làng ông ở Thụy Sĩ, trong khi Schumacher bỏ tiền xây một sân chơi cho trẻ em, Asher Edelman làm nghề môi giới chứng khoán ở New York xây hẳn một bảo tàng nghệ thuật thì Kamprad không chi bất cứ đồng nào cho ngôi làng này. Không chỉ keo kiệt với người ngoài, mà trong gia đình cũng vậy. Kamprad có 3 người con trai, nhưng ông không hề nghĩ đến việc giao cho họ quyền thừa kế. Ông nói: “Tôi nghĩ rằng lúc này không có người con nào có đủ khả năng điều hành IKEA... Tôi không cảm thấy sợ khi vượt qua tuổi 80. Tôi còn nhiều việc phải làm. Tôi không có thời gian để chết”.
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
|
946_1308218157_edward-William-Bok-_3065_729_s.jpg
Hơn cả Thành Công.Phần lớn cuộc đời ông gắn bó với tạp chí dành cho phụ nữ Ladies’s Home Journal. Khi mới đảm nhận vị trí biên tập viên, tạp chí có số phát hành gần 440.000 bản. Bok đã đưa ra rất nhiều chuyên mục mới, có chất lượng và thay đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa độc giả và tạp chí bằng cách đăng tải hầu hết những lá thư của độc giả.
Bên cạnh việc đưa tiểu thuyết của những nhà văn giỏi nhất thời đó, Bok còn đưa vào bài viết của các tổng thống Mỹ: Benjamin Harrison, Theodore Roosevelt... Đó là điều hoàn toàn mới đối với một tạp chí dành cho phụ nữ. Bok còn tạo ảnh hưởng lớn đến ngành kiến trúc Mỹ lúc đó bằng cách cho in những bản thiết kế hoàn tất dành cho nhà thầu và những hình ảnh trang trí nội thất tạo cảm hứng cho những người thiết kế. Tạp chí của Bok còn đi tiên phong trong thay đổi nhận thức của công chúng trong quảng cáo, trong việc giết chim lấy lông may áo, trong việc làm cạn hồ Niagara để khai thác điện. Ladies’s Home Journal là tạp chí đầu tiên từ chối quảng cáo dược phẩm không có cơ sở khoa học. Cho dù bị 75.000 độc giả hủy đặt báo sau một loạt bài xã luận kêu gọi giáo dục tình dục, Bok và các cộng sự vẫn tin rằng đó là điều cần thiết cho xã hội. Khi nghỉ hưu ở tuổi 56, tạp chí Ladies’s Home Journal đạt mốc 2 triệu bản mỗi kỳ. Nếu nói rằng "người thành công là người mang lại cho mọi người điều họ muốn" thì Edward William Bok còn hơn là một người thành công. Suốt cuộc đời đi theo triết lý "Luôn mang lại một điều gì đó cao hơn nhu cầu" đã biến ông thành một trong những người có ảnh hưởng nhất lên xã hội Mỹ những năm đầu thế kỷ 20. Bok nói rằng người có ảnh hưởng lớn nhất với ông là bà ông, người đã khuyên ông rằng: "Hãy làm cho thế giới tốt đẹp hơn bởi vì có con ở trong đó!".
CÔNG TY TƯ VẤN SỰ KIỆN, HỘI THẢO, DU HỌC TÂN ĐẠI DƯƠNG ĐC: Mặt Tiền 148/1 Trần Quang Khải, Phường Tân Định, Quận 1, HCM
ĐT: (84.8) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 – 3848 10 52
Tư Vấn Trực Tuyến:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
,
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
|
|