|
Du học Singapore- Học bổng du học sau đại học (Master or Ph.D.)
CÔNG TY CHUYÊN DU HỌC MỸ - TÂN ĐẠI DƯƠNG HCM - NEW GREAT OCEAN
ĐC : Gần chợ Tân định. MT 148/1 Trần Quang Khải, P.Tân định, Q.1, HCM
ĐT: ( 84.8 ) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 - 3848 10 52 – 3848 10 53 - 3848 10 62
Hotline tư vấn các nước 24/24: 098 900 6890 - 01679 599 338 - 01677 666 160 - 01675 040 403 - 01677 773 972 - 01677 387 138 - 01675 045 478 - 01675 035 553 - 01675 040 403
Website: tandaiduong.edu.vn - hosoduhoc.com/
Cty Chuyên Du Học Mỹ Tân Đại Dương kinh nghiệm trên 10 năm và chỉ có 1 địa chỉ duy nhất tại TPHCM
1. Sự chuẩn bị trong khi đang học ĐH, hoặc Master:
- Tất nhiên, điều mà ai cũng biết là phải có bảng điểm đẹp, đây là điều kiện đầu tiên phải có. Cho nên, nếu bạn có hướng học tiếp lên cao thì ngay từ khi còn học ĐH nên chú ý đến điểm, càng cao càng tốt.
- Tiếp đến, và không kém phần quan trọng là tiếng Anh/Pháp (tiếng Pháp cho các nước dùng tiếng Pháp). Điểm thi các chứng chỉ quốc tế cho các môn này cũng phải cao. Người Việt thường gặp khó khăn trong việc thi lấy điểm ngoại ngữ cao. Cái này có lẽ ta nên học các bạn bên Trung Quốc. Sinh viên trung quốc những người đi du học đều có điểm ngoại ngữ rất cao, thông thường TOEFL của họ không dưới 600, thường là từ 630 – 650 điểm (paper based test). Cái mà họ luyện là từ ngữ, ngữ pháp và kỹ năng thi cử (quan trọng đối với TOEFL).
- Nếu bạn muốn xin học bổng sau ĐH ở Mỹ và nhiều trường ở Canađa, bạn phải có thêm GRE (Graduate Record Examination) hoặc GMAT (Graduate Management Admission Test), trong đó GRE là cho khối khoa học, kỹ thuật còn GMAT là cho khối kinh tế, quản lý. Về GMAT tớ không rõ lắm. GRE là một kiểm tra tương đối tổng quát, bào gồm cả tư duy logic, toán học (cơ bản), tiếng Anh (phần từ ngữ) và khả năng phân tích và tổng hợp. Đặc biệt phần tiếng Anh của GRE thì khó hơn TOEFL rất nhiều. Có lẽ đây là một trở ngại lớn đối với sinh viên Việt chúng ta.
2. Thời gian nên bắt đầu tìm kiếm học bổng:
- Đối với các bạn đang học ĐH, nên bắt đầu tìm kiếm HB từ đầu năm cuối của chương trình ĐH.
- Đối với các bạn đang học Master nên bắt đầu tìm kiếm sau khi bạn đã học xong courses và đã định hình được cái research proposal của mình.
- Tại sao lại không sớm hơn hay muộn hơn những mốc thời gian trên? Đơn giản là nếu bạn xin học bổng muộn quá thì bạn sẽ không thể đi ngay được sau khi hoc xong chương trình bạn đang học, nhưng đây không phải là chuyện lớn. Tuy nhiên, nếu bạn xin học bổng sớm quá thì bạn sẽ có ít tư liệu để chứng mình rằng bạn là giỏi. Vì đây là đi xin tiền, cho nên mình phải chứng tỏ rằng mình không tệ, cho nên khi đi xin thì trong tay phải có một kết quả tốt trong một quá trình dài học tập ở chương trình mình đang học. Vì vậy, nếu bạn mới học ĐH/Master được một thời gian thôi, thì mục tiêu của bạn nên là học cho thật tốt, đừng quá vội.
3. Cách tìm kiếm học bổng:
Theo tôi, bạn cần tìm học bổng, do vậy cũng không nên too selective trong vấn đề chọn trường. Bởi vì, có thể trường bạn thích thì bạn lại không tìm được học bổng & ngược lại. Làm Master, PhD thì tự bản thân mình là chính, trường nào không phải là yếu tố quan trọng nhất (tất nhiên là quan trọng về tiếng tăm, cơ sở vật chất). Để maximize cái chance được học bổng, bạn nên tìm ở rất nhiều trường khác nhau, ở nhiều nước khác nhau.
Cách tìm là bạn liên lạc trực tiếp với những professor nào đang làm về cái mà bạn quan tâm (cái này bạn có thể tìm được trên web của các trường). Viết một cái CV dưới dạng text gửi kèm với email khi liên hệ để các prof. tiện xem luôn. Bạn nên chuẩn bị một cái CV thật tốt trước khi bắt đầu, vì nếu không thì sẽ không nhận được attention ngay từ đầu. Cái quan trọng nhất vẫn là bảng điểm & các thành tựu nghiên cứu mà bạn đã đạt được (đối với người tìm học bổng làm Ph.D. và đã làm xong Master vì bạn đã làm Master rồi nên phải có thành tựu nghiên cứu thông qua các bài báo khoa học mà bạn đã đăng hoặc đã gửi đi đăng — liệt kê chúng trong CV ). Nếu không sẽ rất khó khăn. Trong mỗi trường, bạn chọn prof. nào nghiên cứu về những vấn đề gần với bạn nhất rồi gửi email cho hắn ta trước tiên, sau đó đợi trả lời. Vì các prof. rất bận và mỗi ngày nhận được rất nhiều email xin học bổng kiểu như vậy, cho nên cái chance mà bạn không nhận được reply không nhỏ. Do not panic! Be patient! Nếu như cái CV của bạn proves itself là top 5 trong số những email mà prof. đó nhận được mà hắn lại có funding thì hắn sẽ liên lạc với bạn. Sau một thời gian (khoảng vài tuần) mà prof. đó không reply trở lại, bạn sẽ tiếp tục contact prof. khác trong trường đó mà cũng có những hướng nghiên cứu mà bạn quan tâm. Ở các trường khác cũng làm như vậy. Không nên contact một lúc với nhiều prof. trong cùng một khoa vì rằng những prof. cùng làm về những thứ bạn thích tức là họ thuộc cùng một research group do vậy họ thường xuyên chia sẻ thông tin với nhau. Nếu bạn contact một lúc với nhiều ông với cùng một nội dung thì khả năng sẽ bị từ chối sẽ tăng lên rất cao. Đôi khi, prof. mà bạn contact không có funding để nhận SV mới thì hắn sẽ forward email của bạn cho những đồng nghiệp khác trong cùng research group. Sau vài tháng, bạn lại có thể contact lại prof. mà bạn đã contact trước kia nhưng lúc đó hắn không reply. Như tôi nói trên đây, mỗi ngày các prof. nhận được rất nhiều email xin học bổng, cho nên thông thường khi không có funding thì các email sẽ bị xoá đi. Khi người ta nhận được research grants mới thì có thể sẽ có chance cho bạn. Đó chính là lý do tại sao bạn có thể liên hệ lại với Prof. mà trước đó vài tháng hắn không hề trả lời email của bạn. Cũng có prof. sẽ gữi lại những outstanding CV để khi hắn có funding thì sẽ contact với những người tìm học bổng đó.
Nếu bạn làm như vậy + với một cái CV đẹp (qua những thành tích về học tập & nghiên cứu) thì bạn sẽ tìm được học bổng. Vấn để chỉ là thời gian mà thôi, cần phải kiên trì. Nếu như được cấp học bổng thì thông thường là nó cover mọi thứ bào gồm học phí + living expenses. Cũng có trường hợp prof. chỉ có thể đóng học phí cho mình còn lại living expenses mình phải tự lo.
Một số chú ý:
+ Một số trường ĐH ở Châu Âu, Úc có cơ chế cấp học bổng thông qua trường. Nếu bạn làm như trên tôi viết và prof. nào đó quan tâm đến CV của bạn, hắn sẽ cho bạn biết là phải apply học bổng như thế nào và có thể gửi luôn application forms cho bạn. Mặc dù phải apply học bổng trực tiếp qua trường nhưng liên lạc trước với prof. vẫn có lợi cho bạn. Ví dụ, bạn là một sinh viên suất sắc mà một prof. nào đó rất muốn nhận bạn, khi đó hắn sẽ chú ý đến application của bạn, nếu có gì bất trắc, hắn sẽ liên lạc ngay với bạn và nếu có thể làm gì được để tăng cái chance được HB của bạn thì hắn sẽ làm.
+ ở Bắc Mỹ thì việc cấp funding đa số là do Prof. trực tiếp cấp thông qua research funding của hắn ta. Nên việc liên hệ vởi prof. trực tiếp là điều phải làm.
+ Khi Viết CV, như tôi nói trên đây, các bạn nên để format của nó ở dạng plain text vì ở dạng này thì có thể xem luôn trong email ở bất kỳ hệ điều hành nào của máy tính. Nhiều bạn thích trang trí, dùng Microsoft Word để soạn CV rồi gửi đi cho các Prof. cho nó đẹp. Tuy nhiên, nếu người ta không dùng hệ điều hành Windows (cái này khá thông dụng) thì họ sẽ không xem được và mình mất ngay cơ hội nhận được sự chú ý của Prof. đó.
4. Nếu bạn nhận được một positive reply:
Nếu bạn nhận được một email khả quan từ Prof. nói rằng hắn muốn nhận bạn và có thể cấp học bổng cho bạn thì khả năng được chính thức sẽ rất lớn (hầu như chắc chắn). Tuy nhiên, sau đó bạn vẫn phải vượt qua cửa Admission của khoa/trường đó. Có một số prof. sẵn sang can thiệp để nhận bạn thậm trí khi bạn không đủ hết các điều kiện của admission requirements. Nhưng, không phải prof. nào cũng willing làm việc đó đâu. Cho nên bạn vẫn phải chuận bị thủ tục formal application sau đó cho thật tốt. Trong formal application, bạn phải có ít nhất là 3 thư giới thiệu (reference letters, recommendation letters). Bạn nên xin từ những prof. trực tiếp biết quá trình học của bạn, nếu được người nổi tiếng thì càng tốt. Trong 3 thư giới thiệu, nhất thiết phải có một thư của thầy hướng dẫn tốt nghiệp ĐH/master của bạn. Những người còn lại nếu ngồi trong hội đồng bảo vệ luận án cũ của bạn là tốt nhất. Vì như vậy, những điều họ viết trong thư giới thiệu mới có nhiều ý nghĩa.
Trong trường hợp bạn được prof. hứa cho học bổng nhưng bạn lại không đủ hết các tiêu chuẩn của admission (ví dụ, họ yêu cầu TOEFL 600 điểm, bạn chỉ được có 590 điểm) thì bạn nên liên lạc với thầy đã nhận mình qua email nhờ hắn tác động lên khoa/trường để bạn được nhận. Trong trường hợp học bổng là do thầy mình cấp thì tiếng nói của ông ta rất lớn (vì tiền của hắn) cho nên có rất nhiều trường hợp mà tớ biết thì thầy có thể giúp được. Nhưng, nếu tên prof. đó không giúp bạn thì cũng nên chẩn bị thi lại tiếng Anh (chẳng hạn) để đạt được yêu cẩu của admission.
Nếu được, trong một lúc nên giữ nhiều mối, cho đến khi mình chắn chắn một nơi 100% rồi thì mới nên từ chối những nơi khác. Nhiều khi thầy hứa cho HB, nhưng mình không vượt qua được admission và thầy không giúp thì cơ hội đó vẫn có thể mất như chơi. Cho nên nếu cùng một lúc mình có khoảng 3, 4 nơi cho học bổng là tốt nhất. Tuy nhiên, đến lúc đã chắc chắn một chỗ nào đó rồi thì nên viết thư xin lỗi và từ chối những nơi khác để các prof. đó nhanh chóng có kế hoạch mới cho họ. Đừng có lẳng lặng bỏ đó vì những prof. sẽ chờ bạn. Sau này, khi bạn học xong rồi, có thể lại cần liên lạc lại với prof. ngày xưa cho mình học bổng nhưng mình không lấy, để làm việc khác (chẳng hạn xin làm Ph.D. với hắn (nếu trước đó bạn làm Master) hoặc làm Post Doctoral Research/Research Associate với hắn ta (nếu trước đó bạn làm Ph.D.) . |
|
Du học Singapore- Lời khuyên hữu ích cho du học sinh
CÔNG TY CHUYÊN DU HỌC MỸ - TÂN ĐẠI DƯƠNG HCM - NEW GREAT OCEAN
ĐC : Gần chợ Tân định. MT 148/1 Trần Quang Khải, P.Tân định, Q.1, HCM
ĐT: ( 84.8 ) 3848 48 79 - 3848 10 40 – 3848 10 50 - 3848 10 52 – 3848 10 53 - 3848 10 62
Hotline tư vấn các nước 24/24: 098 900 6890 - 01679 599 338 - 01677 666 160 - 01675 040 403 - 01677 773 972 - 01677 387 138 - 01675 045 478 - 01675 035 553 - 01675 040 403
Website: tandaiduong.edu.vn - hosoduhoc.com/
Tận dụng môi trường ngôn ngữ: Để có thể tiếp thu kiến thức, du học sinh cần phải thông thạo ngôn ngữ quốc gia mình theo học. Ngoài các lớp học tại trường, điều cực kỳ quan trọng là làm sao phải “chìm đắm” trong môi trường ngôn ngữ đó càng nhiều càng tốt. Đây là cách học rất nhanh, vừa học ngôn ngữ vừa biết được những nét đa dạng trong cuộc sống của người dân bản xứ. Khi sinh viên tìm hết cách thâm nhập vào dòng ngôn ngữ của người bản xứ qua các sinh hoạt, tiếp xúc họ sẽ thấy không những khả năng ngôn ngữ gia tăng mau chóng không ngờ mà tầm mắt họ còn được mở rộng rất nhiều.
Tránh "cao su" thời gian: Ở nước ngoài, nguyên tắc đúng giờ rất được coi trọng. Điều này vừa chứng tỏ tác phong công nghiệp vừa thể hiện sự tôn trọng người hẹn. Nếu đến muộn dù chỉ 5 phút trong một cuộc phỏng vấn, bạn có thể đánh mất quyền tham dự của mình. Bất kể là bạn hỏng xe, bạn bận làm bài kiểm tra hay bạn ngủ quên, họ sẽ cho rằng bạn coi thời gian của bạn có giá trị hơn thời gian của người phỏng vấn. Quan niệm này cũng theo cả vào trường học, bất cứ một sự trễ hẹn nào cũng bị cho là thiếu tôn trọng. Nếu bạn chỉ nhớ một thứ, thì đó là: nếu bạn có một cuộc hẹn, hãy đến đó đúng giờ, hoặc thậm chí đến sớm. Nếu không thể đến đúng hẹn hãy luôn xin tha lỗi.
Chấp nhận những khác biệt văn hoá: Ở Việt Nam, tình bằng hữu là một mối quan hệ hết tương đối sâu xa. Trong khi đó, ở một số nền văn hóa khác, đôi khi, tình bằng hữu chỉ đơn thuần có nghĩa là làm cùng một số điều mà những người trong nhóm làm và cùng có chung một sở thích. Tham gia vào các hoạt động của trường như: thể thao, câu lạc bộ SV hoặc những công việc tại trường. Lập ra một nhóm bạn bè. Nếu có ai mời bạn dùng bữa hãy “có''. Bằng không bạn sẽ mất cơ hội.
Trường hợp không ai mời thì bạn hãy chủ động mời một ai đó. Chuẩn bị một số câu chuyện làm quen với các bạn SV bản địa, có thể là về thời tiết, thể thao, hay những ngày lễ, về các thành viên trong gia đình họ.
Cởi mở giao lưu, kết bạn: Trong thực tế, nhiều khi các sinh viên VN ở nước ngoài thường cảm thấy dễ dàng và thoải mái hơn khi kết bạn với đồng bào của mình vì cùng văn hóa, cùng ngôn ngữ, dễ cảm thông.Tuy nhiên, các du học sinh cũng nên lưu ý điểm này: nếu chỉ giao tiếp với đồng hương thì ở khía cạnh nào đó mình đã tự mình bỏ lỡ cơ hội quý hiếm là hội nhập, tìm hiểu thêm các nền văn hóa khác nhau, đồng thời mở rộng tầm mắt ra ngoài được nhiều hơn.Hiện tại, ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam chủ động tham gia vào những hoạt động chung của trường, và những hoạt động dành cho sinh viên quốc tế.
Thận trọng trước sự tự do: Khi đến học ở một nước nào đó, bạn đã tham gia vào một nền văn hoá mới rất năng động, đa dạng. Cơ hội để quen biết, để tìm hiểu có rất nhiều, đặc biệt khi sinh viên sống trong ký túc xá hoặc là thành viên của một câu lạc bộ hoặc nhóm bạn đó. Tuy thế, mục đích tối hậu của việc du học là học chứ không phải vui chơi. Trong khi đó, vì xa gia đình vì thấy được tự do hoàn toàn làm theo ý mình, không còn cha mẹ làng xóm kềm giữ và vì ham vui... nhiều bạn trẻ đã xao lãng chuyện học hành, thậm chí cắt đứt hẳn con đường học vấn. Đến nỗi, có một số người sau nhiều năm ở nước ngoài, bằng cấp đâu chẳng thấy, chỉ thấy lấy được cái bằng lái xe hoặc một số bằng có thể nói là vớ vẩn nào đó không thực dụng mà cũng chẳng thực tế cho bản thân và xã hội
Làm quen phương pháp học mới: Ở đa số nền giáo dục nước ngoài, SV được khuyến khích ra câu hỏi và đưa ra ý kiến riêng của mình. Việc tham gia ý kiến thể hiện việc bạn chú ý nghe giảng, thích thú với bài giảng... Đây là điều gây bỡ ngỡ đối với nhiều du học sinh Việt, vốn quen với truyền thống ''giáo viên nói và sinh viên chỉ nghe''. Điểm khác biệt nhất là mỗi môn đều yêu cầu sinh viên làm đề tài và thuyết trình trước lớp. Ngoài ra, việc được học bằng sách và những tài liệu có sẵn tiết kiệm rất nhiều thời gian của SV khi không phải cặm cụi ghi bài mà thời gian đó được dành để nghe giảng, đặt và trả lời câu hỏi, và thảo luận. Việc làm đề tài thực sự rất có ích trong việc áp dụng những kiến thức được học và cũng giúp có thêm kinh nghiệm thực tế.Nhìn chung, những gì là biểu hiện của sự thành công trong học tập trong nền giáo dục Việt Nam có thể sẽ không đảm bảo cho sự thành công của bạn khi học tại nước ngoài. Cho nên hãy quan sát những bạn học người địa phương và làm theo họ.
Chuẩn bị tinh thần đối mặt với những khó khăn: Một trong những nhu cầu căn bản của con người là được quan tâm, chăm sóc. Đối với du học sinh, đặc biệt là người mới đi du học, sẽ có rất nhiều lúc cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Đây cũng đồng thời cũng là thời gian dễ mất định hướng. Những lúc ấy, đòi hỏi sinh viên cần bản lĩnh. Các bạn bè đồng hương, mối quan hệ với những người xung quanh sẽ là bệ đỡ tinh thần. Qua thời gian học tập nơi xứ người, ngoài kiến thức, các sinh viên Việt Nam sẽ học được thêm nhiều, từ việc tự lo mọi việc, đến việc làm chủ bản thân và tự quyết, và cả những giao tiếp ngoài xã hội khác. Và chắc chắn rằng, những kinh nghiệm ấy sẽ làm đầy hành trang khi về lại quê hương hơn gấp nhiều lần so với khi ra đi. |
14243_1313734751_du hoc anh quoc.jpg
|
| Thời điểm nào thích hợp để khởi đầu du học Như quý độc giả đã tìm hiều ở Bài 1“Giới trẻ Việt và xu hướng du học Anh Quốc”, ngày càng nhiều gia đình tạo điều kiện cho các bạn trẻ được khởi đầu du học từ rất sớm. Học sinh Việt tại các trường trung học, dự bị đại hoc hay cao đẳng tại Anh năm qua chiếm tới 1/3 tổng số du học sinh Việt tại quốc gia này cùng năm. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” chính là những điều mà các cựu du học sinh tâm đắc nhất. Ngoài việc lĩnh hội các môn học ở trường, tác phong làm việc chuyên nghiệp đầy sáng tạo và kiến thức xã hội, cuộc sống độc lập tại Anh đã làm các bạn trưởng thành hơn về nhân cách và học được những kỹ năng tổ chức cuộc sống từ lúc còn rất trẻ |
|
Đặc biệt, các bạn nhận thức được giá trị và điểm mạnh bản thân bởi lẽ phat triển cá nhân rất được trú trọng tại môi trường các nước phát triển. Thực tế cho thấy du học sinh Việt khởi đầu từ bậc trung học hay dự bị đại học có một nền tảng toàn diện để phát huy tối đa trong các bậc học tiếp theo (đại học hay cao học).Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế gia đình, hãy lên một kế hoạch du học chi tiết nhất có thể, hãy trò chuyện cùng những tập đoàn tư vấn hàng đầu để có được những lời khuyên, kinh nghiêm thực tế và lựa chọn thông minh nhất.
Lựa chọn nào cho những khởi đầu
Với bất cứ thời điểm khởi đầu nào, giáo dục Anh cũng có lựa chọn cho bạn. Từ bậc trung học tới tiến sĩ hay cao hơn. Ở bậc trung học (A-level), các bạn trẻ Việt Nam từ 15 tuổi đã có thể bắt đầu. Sự khởi đầu sớm này là một tấm vé chắc chắn để nhập học bậc đại học tại Anh quốc mà không phải qua dự bị (Do sự khác biệt giữa hệ thống giáo dục ở bâc phổ thông giữa 2 quốc gia, hầu hết tất cả các bạn tốt nghiệp cấp 3 tại các trường trong nước phải tham gia khoá dự bị đại học trước khi nhập học chính). A-level cũng là lựa chọn gần như duy nhất để tranh dành tấm vé học đại học tại các trường top đầu tại Anh như Oxford. Cambridge, LSE, Imperial. Với các bạn trẻ Việt tốt nghiệp phổ thông trung học tại các trường trong nước, dự bị đại học là cánh cửa an toàn và tối ưu. Khoá dự bị này không chỉ mang lại sự chuẩn bị về ngoại ngữ, kiến thức bổ xung, kỹ năng học và làm việc, mà còn giúp cho các bạn thích nghi được với cuộc sống mới trước khi nhập học đại học. Các khóa học dự bị nhiều khối ngành, chuẩn bị kiến thức cho sinh viên theo tiếp bậc đại học với lựa chọn yêu thích.
Ngoài ra, các bạn tốt nghiệp tú tài ở Việt Nam cũng có thể theo học các khoá họcDiploma 1 hay 2 năm. Sau khi hoàn thành khoá học, sinh viên có thể chuyển tiếp vào năm thứ 2 hoặc cao hơn ở bậc đại học.
Xin mời xem thông tin chi tiết về lựa chọn cho học sinh Việt tốt nghiệp cấp 3 cho từng khoá học ở kỳ sau: Bài 3:Lựa chọn chương trình học tập và hướng nghiệp cho giới trẻ Việt Một số ít các bạn trẻ Việt, với kết quả học tập xuất sắc, trình độ ngoại ngữ tốt, dành được thư mời học năm đầu tiên hệ đại học.
Một chia sẻ nhỏ từ các chuyên gia tư vấn ISC-UKEAS: Scotland với hệ thống giáo dục đại học 4 năm, sẽ có nhiều cơ hội hơn cho các em sinh viên Việt Nam mong muốn học vượt bậc dự bị. Đối với các bạn mong muốn du học bậc sau đại học, Anh là một lựa chọn tuyệt với: thời gian học cao học chỉ 1 năm, đa dạng lựa chọn và tiêu chí tuyển sinh không quá khắt khe, ngoại trừ những trường danh tiếng hay nhũng ngành đặc trưng như Y, Dược, Luật, Thiết Kế hay liên quan đến nghệ thuật. Vui lòng đón đọc các bài viết tiếp theo trong loạt bài“Anh quốc - Điểm đến du học của giới trẻ Viêt” cho một quyết định hoàn hảo.
Lựa chọn trường: Bài test nhu cầu cá nhân
Xu hướng cổ điển: các bạn thường quá chú trọng tới trường học và ngành học mà quên đi một yếu tố không kém phần quan trọng đó là: thành phố mà bạn sẽ sống trong quãng thời gian du học.
Xu hướng hiện đại: kết hợp giữa hai yếu tố trường và thành phố. Hãy nhớ rằng bạn sẽ sống ở thành phố nơi bạn học trong một khoảng thời gian không ngắn. Một ngôi trường tốt, một ngành học đúng nguyện vọng và một môi trường sống đúng theo những gì hình dung về một điểm đến lý tưởng sẽ làm nên thành công cho bạn. Tất cả các trường đại học tại Anh Quốc đều đạt được những tiêu chuẩn chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, và bạn cũng không phải lo lắng về chất lượng bằng cấp. Bài kỳ 4 “Trường học - Lựa chọn nào là thích hợp nhất với sinh viên Việt” sẽ cung cấp những thông tin chi tiết hơn tới quý độc giả về hệ thống trường đại học tại Anh Quốc.
Chi phí ước tính và cơ hội học bổng
Các con số thống kê dưới đây cung cấp cho quý vị phụ huynh và các em học sinh một cái nhìn tổng thể về chi phí học tập và sinh hoạt trung bình tại Anh quốc. Chi phí sinh hoạt dao động (++) thấp hơn hay nhiều hơn con tuỳ thuộc vào nhu cầu cá nhân và khả năng hoach toán chi tiêu của sinh viên.
|
Bậc học
|
Học phítrung bình/năm(USD)
|
Thời gian học
|
|
Trường tư thục
|
24.000 - 42.000
|
Tiểu học: 6 năm Trung hoc: 5 năm
|
|
A Levels
|
7.000 – 21.000
|
2 năm
|
|
Dự bị Đại học
|
14.000 – 21.000
|
1 năm
|
|
Diploma
|
14.000 - 21.000
|
1 năm
|
|
Đại học
|
14.000 - 28.000
|
3 năm/ 4 năm
|
|
Thạc sỹ
|
14.000 - 28.000
|
1 năm
|
|
Tiến sỹ
|
14.000
|
3 năm
|
Sinh hoạt phí ước tính:
- Ngoài khu vực London: GBP 5.400++ cho 9 tháng học (GBP 600++/ tháng)
- Trong khu vực London: GBP 7.200++ cho 9 tháng học (GBP 800++/tháng)
Học bổng: ngoài học bổng chính phủ, hầu hết các trường đều có quỹ học bổng cho sinh viên xuất sắc. Một số ít các tập đoàn công ty lớn cũng dành học bổng cho sinh viên bậc đại học trở lên. Ngoài ra còn có những học bổng hữu nghị trao tặng bởi các trường liên kết với tập đoàn tư vấn giáo dục.
Visa
Từ tháng 3/2009, Sứ Quán Anh đã thay đổi luật visa đối với học sinh Việt Nam. Tất cả hồ sơ visa sẽ được xét tại Bankok, Thailand và không yêu cầu phỏng vấn như trước đây. Hồ sơ visa sẽ được xét từ 7 – 15 ngày làm việc (không tính thứ Bảy, Chủ Nhật).Hồ sơ được xét duyệt dựa trên tất cả các giấy tờ nộp cho Sứ Quán, vì thế giấy tờ phải được kiểm tra một cách cẩn thận, đúng theo yêu cầu của Sứ Quán cho từng loại visa và phù hợp với luật visa nếu có thay đổi. Để tránh tình trạng bị từ chối visa, quý phụ huynh và các bạn trẻ nên tham khảo dịch vụ tư vấn tại các tập đoàn tư vấn du học uy tín để được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ đầy đủ. Thông tin chi tiết xin vui lòng trup cập trang web http://ukinvietnam.fco.gov.uk
Làm thêm trong quá trình học tập
Sinh viên Việt Nam học tâp ở Anh được phép làm thêm (bán thời gian, số giờ hạn chế). Tuỳ vào kinh nghiệm bản thân và sự năng động của mỗi sinh viên, công việc được lựa chọn đa dạng từ những việc phù hợp với chuyên môn cho đến lao động tay chân. Thời gian cũng rất linh động giữa các buổi trong ngày. Hãy cởi mỏ với các mối quan hệ xã hội, nhiều cơ hội và thông tin sẽ đến với bạn.
Đi làm thêm tốt không? Tốt! Ngoài việc có thêm thu nhập,làm thêm giúp các bạn sinh viên mở rộng quan hệ xã hội, nâng cao vốn tiếng Anh và trân trọng giá trị đông tiền hơn, nhất là đối với nhũng bạn trẻ.
Đi làm thêm ảnh hưởng đến học tập? Điều này còn tuỳ thuộc vào cách tổ chức thời gian của từng cá nhân. Đương nhiên, quỹ thời gian dành cho học tập và vui chơi sẽ bị hạn chế, nhưng nễu biết cách chia quỹ thời gian hợp lý, chọn công việc phù hợp với năng lực và sức khoẻ, việc làm thêm sẽ mang tính tích cực.
Cơ hội sau tốt nghiệp
Chất lượng giáo dục của Anh nổi tiếng trên toàn thế giới và hiển nhiên bằng cấp sẽ được công nhận toàn cầu. Lựa chọn địa điểm và cơ hội nghề nghiệp sau khi tốt nghiêp là quyết định của mỗi cá nhân. Du học sinh Việt tại Anh sau khi tốt nghiệp sẽ được cấp phép lao động và cư trú nếu tìm được một công việc phù hợp với bằng cấp và có thu nhập ổn định. Ơ Châu Âu, hàng năm có nhiều công ty lớn thường đến tận các trường đại học tổ chức hội thảo tuyện dụng sinh viên tốt nghiệp. Nếu bạn may mắn trúng tuyển, nhiều cơ hội đào tạo sẽ mở ra với bạn không chỉ ở Anh. Và hiển nhiên, khi trở về Việt Nam, bạn sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp với vốn kiến thức chuyên môn, xã hội và ngoại ngữ sẵn có.
|
|
|
0_1309510136_Kinh-nghiem-du-hoc-t_4644_124_s.jpg
Đặt chân đến Canada cách đây 10 năm, bắt đầu từ học tiếng Anh, qua đại học, rồi thạc sĩ, đến nay làm nghiên cứu sinh tiến sĩ năm cuối và tham gia giảng dạy tại Đại học Victoria, Võ Hiếu Dân có những điều giá trị để chia sẻ về kinh nghiệm du học thành công.
Võ Hiếu Dân kết thúc bài giảng về kinh tế vi mô bằng những diễn đạt sôi nổi, lưu loát và đầy cảm hứng. Hơn một trăm sinh viên lắng nghe anh trong giảng đường Đại học Victoria rõ ràng hài lòng với kiến thức nhận được. Trả lời của họ trong bản đánh giá giáo viên nói lên điều đó.
Năm thứ hai giảng dạy học phần 10 tuần với 3 tiết mỗi tuần như thế này, anh đã tiến bộ rất nhiều. Năm đầu tiên, các góp ý của sinh viên khá nhiều và gay gắt. "Thày cần chú trọng lĩnh vực này hơn...", "Thày cần cho nhiều ví dụ thực tế về...". Dân nói với phóng viên VnExpress: "Những ý kiến đó vô cùng hữu ích, khiến mình phải cập nhật. Đi dạy - là cách học tốt nhất".
Dẫn đến hôm nay là cả một con đường dài. Năm 2001, nguyên học sinh trường phổ thông Lê Quý Đôn TPHCM, Dân được ba mẹ cho sang du học. Anh chọn Đại học Victoria, thuộc tỉnh British Columbia làm nơi khởi đầu học tiếng Anh, và kết cục đã ở lại đó tận bây giờ. Năm đầu chi phí chưa nhiều, nhưng cũng là cố gắng rất lớn của ba mẹ. Trước những khó khăn đang chờ đợi, ba mẹ chỉ biết nói "hãy cố gắng hết sức".
Là sinh viên năm thứ hai, Dân có công việc trường cho làm thêm – trông coi thư viện. "Tiền công trường trả như cho, 10-11 đô một giờ", Dân kể lại. Đó thực sự là nguồn thu quan trọng để chia sẻ gánh nặng với ba mẹ. Chính sách chung ở Canada cho sinh viên quốc tế tại các trường cao đẳng và đại học, qua 6 tháng đến một năm học đầu tiên, được phép làm thêm bán thời gian khi đang học hoặc toàn bộ thời gian vào kỳ nghỉ.
Khó khăn tài chính là điều thường gặp với du học sinh. Lời khuyên quan trọng mà Dân có thể chia sẻ với các bạn trẻ là: cần biết tìm kiếm cơ hội học bổng. "Học bổng không tự nhiên đến với bạn". Văn phòng sinh viên quốc tế thường có ở các trường là nơi trợ giúp bạn tìm hiểu các điều kiện học bổng và thực hiện đúng các thủ tục cần thiết. Với cách đó, khi lên học thạc sĩ Dân đã được học bổng từ các trường. Vài tháng trước khi tốt nghiệp đại học, năm 2005, Dân đã được trường báo tin sẽ được nhận chuyển tiếp học thạc sĩ. Đó thực sự là thành công bao mong đợi của Dân và ba mẹ.
Cơ cấu dân số Canada cho thấy nguy cơ thiếu hụt đáng kể nhóm ở tuổi lao động trong tương lai gần. Bà Tina Chow, Giám đốc Đảm bảo Chất lượng thuộc Cục Đào tạo người nước ngoài của tỉnh British Columbia cho phóng viên VnExpress biết, riêng giai đoạn 2009-2019, tỉnh này sẽ có thêm khoảng 1,1 triệu việc làm, và theo tính toán, một phần ba số đó sẽ phải cần đến người lao động nhập cư.
Chiến lược cơ bản của Canada trước tình hình này là thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng, và cách thu hút tốt nhất là một hệ thống giáo dục chất lượng đỉnh cao của thế giới. Chính sách này, cộng với mức sinh hoạt không đắt đỏ, chất lượng cuộc sống an toàn và thiên nhiên đặc biệt tươi đẹp, đang khiến Canada trở thành điểm du học tốt nhất. Giáo sư Aaron Devor, Trưởng khoa Cao học Đại học Victoria, cho biết, 10% số sinh viên hiện nay ở trường này là đến từ nước ngoài, và chỉ số đó sẽ tăng trong năm tới.
Ngay ngoài cửa sổ giảng đường là thiên nhiên cây xanh và hoa nở rực rỡ đầu mùa hạ. Dân nói; "Đây là nơi tuyệt đẹp để học tập". Một năm nữa anh sẽ hoàn thành chương trình học tiến sĩ kinh tế. Kế hoạch tiếp theo của anh là giảng dạy tại Đại học Victoria.
"Công việc sung sướng nhất là giảng dạy, bởi vì nó cho mình điều kiện tiếp tục nghiên cứu", anh chia sẻ. |
0_1308708872_lamduyviet.jpg
Ngày 18.5, Lâm Duy Việt (27 tuổi, ở TP Quy Nhơn, Bình Định) đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành hóa với số điểm 3.9/4.0 tại ĐH Carnegie Mellon (bang Pennsyvinia, Mỹ).
Lâm Duy Việt (đứng, bên phải) tại buổi lễ nhận bằng tiến sĩ ở ĐH Carnegie Mellon - Ảnh do nhân vật cung cấp
Luận án của Việt có đề tài "Structure of Rod - like Polyelectrolyte - Surfactant Aggregate in Solution and in Adsorbed Layers" (tạm dịch: Cấu trúc của một nhóm bao gồm chất hoạt động bề mặt và polyme). Hội đồng giáo sư ĐH Carnegie Mellon đánh giá đây là một đề tài công nghệ nano khá căn bản, có tính thực tiễn cao và ứng dụng rất đa dạng, bao gồm cho ngành dầu khí (chất hỗ trợ để tăng hiệu quả của quá trình khai thác dầu), ngành dược (chất lưu chuyển dược phẩm trong cơ thể người), ngành năng lượng mặt trời (chất tham gia trong quá trình sản xuất một loại tấm thu năng lượng mặt trời).
|
1056_1308197527_Nhung-chuan-bi-can-t_4395_597_s.jpg
Từ khi nghĩ đến việc du học cho đến khi chuẩn bị hồ sơ và lên đường là cả một chặng đường dài; có thể nói là cần rất quyết tâm và nhiều tâm huyết. Những kinh nghiệm được các chuyên gia tư vấn đúc kết dưới đây sẽ giúp bạn tránh những sai sót phổ biến.
1. Đánh giá quá cao khả năng của bản thân. Nhiều bạn chưa đáp ứng được cả điều kiện nhập học đã nghĩ đến việc sẽ có học bổng.
Một điều nữa là các trường Anh và Úc, rất hiếm học bổng toàn phần. Tại các nước này, tài trợ toàn phần thường chỉ qua diện chính phủ và cạnh tranh rất gay gắt. Vì thế, xin học bổng ở Mỹ thực ra dễ hơn ở Anh và Úc, vì các hình thức xin tài trợ ở Mỹ rất đa dạng: trên cơ sở nhu cầu tài chính, điểm xuất sắc, hồ sơ sớm, vay chính phủ và đóng góp cho cộng đồng.
2. Giả thành tích: Đôi khi vì muốn con được học bổng cao mà các bậc phụ huynh sửa học bạ, hoặc một số bạn giả thành tích đóng góp cho cộng đồng. Khi vào học, các giáo viên nhanh chóng nhận ra sự chênh lệch giữa hồ sơ và thực tế và điều này đã tổn hại rất nhiều đến uy tín của các sinh viên VN khác.
3. Không thành thật khi xin visa. Khi xin visa, đối với Mỹ phải qua phỏng vấn trực tiếp. Còn với Anh và Úc thì chỉ qua xét hồ sơ tài chính và điểm tiếng Anh. Bạn sẽ phải chứng minh mình có đủ khả năng tài chính trong ít nhất một năm học và kê khai mức thu nhập của người bảo lãnh bạn. Trong trường hợp xin đi Anh, người này bắt buộc phải có quan hệ ruột thịt với bạn. Các nhân viên đại sứ quán có rất nhiều cách để điều tra thông tin tài chính của bạn. Và hậu quả sẽ cực kỳ nghiêm trọng nếu họ phát hiện bạn không thành thật.Thiếu thành thật cũng là một lỗi mắc khá phổ biến khi xin visa đi Mỹ. Có trường hợp nói dối rằng mình không có người thân ở bên Mỹ, trong khi nhân viên sứ quán có thể dễ dàng kiểm chứng thông tin này
4. Xin phỏng vấn visa đi Mỹ quá 2 lần trong một tháng. Trượt phỏng vấn visa đi Mỹ là “chuyện thường ngày ở huyện”, nhưng có thể dễ dàng xin một cơ hội khác. Tuy nhiên không nên đăng ký phỏng vấn nhiều hơn 2 lần trong một tháng. Người phỏng vấn thường cho rằng bạn sẽ không thể cung cấp cho họ thông tin gì mới trong thời gian ngắn như vậy.
5. Không có điểm tiếng Anh chính thức. Điểm tiếng Anh thấp không cản trở bạn xin đi học ở Anh và Mỹ. Trong khi đó, các trường rất khó đánh giá năng lực tiếng Anh của bạn qua những kết quả thi không được quốc tế công nhận (ví dụ của trung tâm ngoại ngữ hay nơi tư vấn du học). Vì thế, bạn vẫn sẽ buộc phải thi TOEFL hay IELTS trước khi được xét nhập học.
6. Đánh giá thấp các trường đại học cộng đồng ở Mỹ. Học sinh Việt Nam thường chỉ quan tâm đến các trường danh tiếng mà bỏ qua các trường đại học cộng đồng ở Mỹ (community college). Trong khi đó, đi theo con đường đại học cộng đồng rẻ hơn các kênh khác rất nhiều và không yêu cầu nhiều về tiếng Anh.
7. Chỉ chọn học ngành quản trị kinh doanh. Hiện nay, rất nhiều sinh viên Việt Nam đăng ký học quản trị kinh doanh, và ít người quan tâm đến các lĩnh vực như kỹ sư cơ khí, điện tử hay công nghệ thông tin.
8. Không chuẩn bị đầy đủ tâm lý để thích nghi với môi trường mới. Khả năng thích nghi kém là một trong những nhược điểm lớn nhất của sinh viên VN
9. Mải mê tìm việc khi ở nước ngoài. Sẽ là sai lầm nếu coi việc làm là cách để trang trải học phí. Tâm lý này sẽ dễ khiến bạn chểnh mảng học hành
10. Chưa tính toán kỹ lưỡng khi dự định ở lại làm thêm sau khi học. Mỹ và Úc là những quốc gia nhập cư, nên chính sách về lao động cũng cởi mở hơn Anh. Nhưng cho dù là nước nào, bạn cũng sẽ gặp nhiều bất lợi khi cạnh tranh với người dân bản xứ hay các lao động từ những nước xưa nay có nguồn nhân lực được đánh giá cao.Có lẽ không ít bạn đều mơ ước sẽ có ngày được đi du học. Có những bạn được gia đình sắp xếp sẵn mọi thứ, nhưng cũng có bạn phải tự mình thực hiện lấy. Nhưng chọn trường du hoc my như thế nào cho phù hợp với khả năng của mình.
.Các bạn nên dựa vào một trong những tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Trường có thế mạnh về ngành mà mình yêu thíchĐể làm tốt điều này, các bạn có thể tham khảo cácbảng xếp hạng về các trường, hoặc hỏi các anh chị đi trước. Đương nhiên không nên bó buộc mình vào một ngành học nhất định nhưng phải có đích ngay từ đầu. Bạn có thể thích nhiều ngành, nhưng bạn buộc phải quyết định ngành mà mình yêu thích/có khả năng nhất.
Tiêu chí 2: Chọn trường phù hợp với sức học của mìnhChắc hẳn khi nghe đến Stanford hay Yale,Harvard... hẳn mọi người đều có mong ước được vào những ngôi trường danh tiếng, cạnh tranh cao như thế này. Vấn đề là bạn có khả năng vào được trường đấy hay không, và có nhất thiết phải vào hay không? Thực tế, có nhiều trường tuy không thuộc top đầu như Yale, Harvard... nhưng khi xét riêng về một ngành thế mạnh của trường thì lại rất nổi tiếng về chất lượng.
Tiêu chí 3: Chọn trường sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế gia đìnhCó rất nhiều bạn không hiểu, tưởng rằng một khi đượcnhận vào trường đó sẽ bao gồm cả học bổng, hoặc là học bổng có ngay từ đầu lúc các bạn xin vào trường. Tớ xin được giải thích sơ về vấn đề này: Hồ sơ xin vào trường nào đó và hồ sơ xin học bổng của trường đó là hai bộ hồ sơ hoàn toàn khác nhau.
Hồ sơ xin học bổng (financial aid), chỉ bao gồmnhững thông tin về tài chính gia đình. Tùy trường, khi xét chọn học sinh, người ta có thể nhìn vào cái financial aid application của bạn hay không. Có những trường cho học bổng theo dạng full-need policy thì sẽ cho hết những gì bạn cần, dựa trên cái financial aid application. Nhưng cũng có những trường không full-need thì chỉ cho part những gì bạn cần, hoặc thậm chí không cho.
Các bạn cần phải hiểu rõ hơn, financial aidapplication là thể hiện khả năng tài chính của gia đình thí sinh. Nếu gia đình thí sinh giàu có, thì dù cho thí sinh đó học giỏi cỡ nào, trường cũng bắt phải trả tiền. Điều này thể hiện rất rõ ở các trường của Mỹ, thông thường trường chỉ cho financial aid khi nào gia đình thí sinh thực sự ko thể chi trả nổi chi phí học ở trường thôi. Tuy nhiên, cũng có một số ít trường hỗ trợ tài chính mà không cần biết nhà bạn có giàu hay không, điều đó tuỳ thuộc vào chính sách của trường (những chính sách này thay đổi theo từng năm). Và tớ cũng xin nói là có nhiềuhình thức khác ngoài học bổng, như cho vay tiền học, hỗ trợ tài chính có điều kiện.... tùy theo trường và theo từng hoàn cảnh gia đình, những bạn đi du học cũng nên chú ý nhiều đến những hình thức này.
Vậy, vấn đề là, bạn có khả năng thuyết phục trườngnhận bạn vào học hay không, vì khi được nhận vào trường, bạn đã có 70% cơ hội được học bổng.
Tiêu chí 4: Hãy start early và keep on trying (Bắt đầu sớm và đừng bao giờ bỏ cuộc)Hãy bắt đầu tìm hiểu và chuẩn bị ngay từ hôm nay.Mỗi trường có một kì hạn nộp đơn riêng, bạn cần phải xác định là mình nộp hồ sơ đúng thời gian quy định. Hãy chắc chắn rằng bạn đã chuẩn bị cho mình một hồ sơ tốt nhất, và cuối cùng là, Go Go Go!!!Một số lời khuyên dành cho bạn: - "Try to dig into the school", biết thêm về trườngcàng nhiều càng tốt, không chỉ về ngành học mà còn về cộng đồng, môi trường sống và học tập.....những điều đó sẽ giúp ích rất nhiều lúc bạn làm essay (Phong Phú, Trinity University" 13)- Có rất nhiều bạn tìm mọi cách để gây ấn tượng quá mức, điều đó là không nên. Ai cũng có điểm mạnh riêng, và hãy tự tin thể hiện điều đó, bạn sẽ được chú ý (Huy Hoàng, Wesleyan University" 11)- “Yes, I can. Yes, we can”, đừng quan tâm là mìnhsẽ thành công hay thất bại. Hãy cố hết sức để thực hiện giấc mơ của mình, và chắc chắn bạn sẽ là người chiến thắng trên một khía cạnh nào đó (Thành Danh, kenh14, SGU’ 13). Sau khi xin được visa du học Mỹ, thì việc tiếp theo của bạn là chuẩn bị thật kỹ lưỡng về sức khoẻ và tư trang cho chuyến bay. ASCI xin trao đổi với các bạn học sinh trước giờ lên đường sang Mỹ du học một vài kinh nghiệm để chuyến đi của bạn thuận lợi và an toàn. 1. Những giấy tờ quan trọng: - Vé máy bay - Hộ chiếu - Form I-20 hoặc DS-2019 (dành cho các bạn học sinh GLVH) - Thư mời học, các thông tin về trường, nơi ở bên Mỹ và các giấy tờ liên quan Bạn nên để riêng những giấy tờ trên vào một túi xách tay. Khi có yêu cầu kiểm tra của Hải quan thì xuất trình. Bạn phải thật chú ý không được để thất lạc 2. Hành lý được mang theo: · Hành lý tối đa cân nặng 64kg, đóng làm 2 kiện, mỗi kiện 32 kg. Ngoài ra được phép mang theo 1 túi xách nặng 5kg. Những hành lý to, cồng kềnh phải thông qua sự đồng ý của hãng máy bay. Nếu bạn mang hành lý quá trọng lượng cho phép, bạn phải bỏ bớt hành lý hoặc nếu mang theo thì phải trả thêm tiền. · Bạn nên mang theo những đồ cần thiết như: vở viết, đồ dùng học tập, Từ điển (tốt nhất là sử dụng Kim từ điển), quần áo mùa hè, mùa đông, máy ghi âm,... Cần chú ý một vài điểm sau: a. Tất cả các hành lý mang theo đều phải đưa cho nhân viên Kiểm soát của sân bay kiểm tra để đảm bảo an ninh.
b. Không nên để hành lý mà không được trông coi nhưng cũng không được giao hành lý cho bất kỳ ai trông giùm dù có quen biết.
c. Không mang, không chuyển hay giữ hộ hành lý của bất cứ ai để bảo vệ an toàn cho chính mình và những người khác trên cùng chuyến bay.
d. Nhân viên Kiểm soát của sân bay sẽ dán vé Kiểm soát vào hành lý đã được kiểm tra và nửa phần vé Kiểm soát còn lại sẽ được đính vào vé máy bay. Bạn nên giữ lại phần vé này để tiện cho việc lấy lại hành lý khi đến sân bay. Ghi rõ tên và địa chỉ của bạn lên hành lý.
e. Do bạn phải đi một chặng đường xa nên, ngoài những giấy tờ cần thiết, bạn cần mang theo trong túi xách tay các vật dụng như thuốc men, dầu gió, đồ dễ vỡ, đồ trang sức. Không được mang dao, kéo, những vật dụng bằng kim loại nói chung.
f. Tuyệt đối không được mang hàng quốc cấm, chất gây nổ, vũ khí, chất kích thích như ma túy... g. Để đảm bảo sức khoẻ cho chuyến bay dài, bạn cần nghe theo lời khuyên của bác sỹ: - Quần áo, giày dép nên thoáng mát và rộng rãi. Không mặc đồ bó sát. - Trong chuyến bay nên uống nhiều nước, nước trái cây; không nên uống các thức uống có cồn và chất kích thích như rượu và cà phê - Không ăn quá no trong và trước khi bay - Nên nhìn vào những vật cố định, không nhìn ra ngoài để tránh chóng mặt - Nên thường xuyên ngậm kẹo ngọt để tránh đau tai và mũi do áp suất thay đổi gây nên. - Nên bôi kem chống khô da, sử dụng kính đeo thường thay cho kính sát tròng - Không hút thuốc trên máy bay. 3. Khi đến sân bay Khi đến sân bay chuyển tiếp, bạn không cần phải lấy hành lý đi gửi, hành lý sẽ được tự động chuyển sang chuyến bay sau. Nên theo dõi bảng thông báo, xem chuyến bay tiếp theo của mình sẽ cất cánh ở cổng nào để tới cổng đó ngồi chờ. Trước giờ bay 30 – 60 phút phải chú ý xem bảng thông báo để biết chuyến bay của mình có thay đổi cổng ra không. Các cổng ra máy bay có thể cách nhau rất xa, vì vậy bạn không nên đi chơi trong sân bay trong thời gian chờ chuyến bay tiếp. Khi máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay Mỹ đầu tiên, tiếp viên hàng không sẽ đưa mẫu I-94 yêu cầu bạn điền các thông tin về tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ sẽ ở tại Mỹ… . Khi máy bay hạ cánh, bạn sẽ làm thủ tục nhập cảnh, xuất trình hộ chiếu (visa), I-94, phong bì đựng I-20/DS-2019. Đi lấy hành lý, rồi mang hành lý đi gửi để bay chặng tiếp theo. Khi đến sân bay cuối cùng, bạn đi lấy hành lý, sẽ có người đón cầm biển ghi tên bạn hoặc tên trường. Trong trường hợp không tìm được người đến đón thì tới Information Desk hỏi. Nhân viên sân bay sẽ hướng dẫn cụ thể. Khi tới trường, bạn phải nhanh chóng liên lạc bằng điện thoại hoặc email với trung tâm và gia đình để gia đình yên tâm. Có thể do trục trặc giờ bay do bị lỡ chuyến bay bạn phải thông báo cho Host Family, gia đình và trung tâm để báo cho trường/ người đón biêt. Nếu là học sinh Giao lưu văn hoá thì cách tốt nhất là bạn gọi điện cho Host Family hoặc Đại diện Vùng biết, vì họ chính là người đi đón bạn. Hoc sinh nên mang theo tiền lẻ để có thể mua thẻ gọi điện tại sân bay. * Cách gọi từ Mỹ về Việt Nam như sau: 011 + 84 (Mã Việt Nam) + 4 (Mã vùng Hà Nội) + số máy điện thoại cố định Ví dụ: 011 84 4 2730966 011 + 84 + Số máy di động ( bỏ số 0 ở đầu ) Ví dụ: 011 84 983010580 § Gọi trong nội địa Mỹ: Không cần Code của Mỹ. Ví dụ: 415 228 8050 § Gọi từ Việt Nam sang Mỹ: 001 415 228 8050
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. -
San Francisco: Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco
Địa chỉ: 1700 California Street, Suite 430, San Francisco, CA.94109
Tel: (415) 922 1577, (415) 922 1707
Fax: (415) 922 1848, (415) 922 1757
Code: 00-1-415
E-mail:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Website:
http://www.vietnamconsulate-sf.org
4. Nếu bạn ở Homestay thì sau đây là những lời khuyên hữu ích cho bạn: · Sử dụng điện thoại và email: 2 tuần 1 lần. Nếu bạn gọi đường dài thì bạn phải tự trả tiền cước phí. · Vệ sinh: Tắm và đánh răng 2 lần/ ngày vào buổi sáng trước khi tới trường và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng chất khử mùi. Gội đầu. Con trai không dùng quá nhiều nước hoa. Con gái không trang điểm quá đậm nhất là khi đi học. Không ở trong phòng tắm quá lâu, sau khi sử dụng phòng tắm phải dọn dẹp sạch sẽ. · Quần áo: Mặc quần áo phù hợp với từng việc. Nếu không biết nên mặc đồ gì thì hãy hỏi chủ nhà. Mặc quần áo sạch sẽ. · Tự trả các chi phí cá nhân: Tự trả cước phí những cuộc điện thoại đường dài của bạn. Đi xem phim, đôi khi chủ nhà mua vé cho bạn, nhưng đôi khi bạn phải tự mua…. · Không cho bạn bè thậm chí các thành viên trong gia đình chủ nhà vay tiền và không mượn tiền của bất cứ ai. · Không nói tiếng Việt Nam với các học sinh giao lưu khác trước mặt những người Mỹ. Không đi chơi về muộn mà không được phép của chủ nhà. Nếu bạn ở trường/ nhà bạn bị về muộn thì hãy gọi điện cho chủ nhà. Đừng ra khỏi nhà mà không nói với chủ nhà là bạn đi đâu (trong thời gian bạn ở Mỹ, chủ nhà là bố mẹ nuôi của bạn, họ chịu trách nhiệm về bạn và việc của họ là biết bạn đang đi đâu và đang làm gì). Nếu chủ nhà không bảo bạn làm việc nhà thì hãy đề nghị được giúp họ rửa bát đĩa, quét nhà hoặc hút bụi, đổ rác thậm chí nấu ăn. Nếu bạn thích chơi đàn thì hãy hỏi xem bạn có làm phiền ai không. · Vô tuyến: Nếu bạn xem TV với chủ nhà, đừng đòi xem chương trình bạn thích. Nếu chủ nhà cảm thấy một số chương trình không phù hợp với bạn thì đừng xem những chương trình đó. Nếu chủ nhà muốn tắt TV thì đừng phản đối. Đừng xem TV quá khuya nhất là vào những ngày đi học. · Chú ý: Mỗi học sinh GLVH đều được phát 01 Student handbook, trong đó hướng dẫn cụ thể những điều nên và không nên làm trong quá trình học tập tại Mỹ. · Học sinh cần mang theo thư mời, I-20/ AYP-66/ DS- 2019, hộ chiếu, vé máy bay, hành lý (64kg, đóng làm 2 kiện + 5 kg xách tay với điều kiện tuyến bay từ Hà Nội không qua tp.HCM). · Ở những sân bay transit quốc tế học sinh không phải lấy hành lý đi gửi. · Khi tới sân bay nội địa đầu tiên ở Mỹ, học sinh phải lấy hành lý, làm thủ tục nhập cảnh rồi mang hành lý đi gửi để bay chuyến tiếp theo. · Tới sân bay cuối cùng, lấy hành lý, qua Custom Office, có người của trường cầm biển ra đón. · Về tới nhà chủ, bố mẹ nuôi/ đại diện vùng sẽ đưa tới trường để đăng ký học.Trung thực là một phẩm chất rất quan trọng khi xin visa hay học bổng du học. Một chút phóng đại về bản thân có thể đưa tới những hậu quả lớn hơn bạn tưởng rất nhiều.Các nhân viên đại sứ quán rất có kinh nghiệm trong việc kiểm tra mức độ chân thực của hồ sơ hay đối tượng phỏng vấn xin visa.Khi làm hồ sơ xin visaYêu cầu chứng minh tài chính khi đi Anh và Úc thường là bạn phải chứng tỏ mình có đủ khả năng trang trải học phí và chi phí sinh hoạt trong một năm kèm theo kê khai thu nhập của người bảo trợ. Có người đã dùng photoshop để bức ảnh công ty của người bảo trợ trông “hoành tráng” hơn. Hay có trường hợp ghi sai hình thức kinh doanh của công ty. Những gian dối trong kê khai hồ sơ, cho dù là vô tình hay cố ý, sẽ bị phạt rất nặng. Nếu bị nghi ngờ không trung thực và hồ sơ bị từ chối đến lần thứ hai, bạn sẽ vào “sổ đen” của đại sứ quán và hồ sơ xin visa của bạn có khả năng không được duyệt trong nhiều năm tiếp theo. Theo các chuyên gia về tư vấn du học ở Language Link, mức phạt của Đại sứ quán Anh có thể lên tới 10 năm.Khi trả lời phỏng vấnTrả lời phỏng vấn xin visa đi Mỹ cũng đòi hỏi sự thành thật. Ví dụ, có người nói dối rằng mình không có người thân ở Mỹ, trong khi thông tin này có thể kiểm tra dễ dàng. Lời khuyên cho những ai chuẩn bị đi trả lời phỏng vấn là: “Bạn hãy là chính mình”. Điều này sẽ giúp bạn gây thiện cảm với người phỏng vấn bạn.Khi làm hồ sơ du họcMột kiểu thiếu trung thực khác là gian dối trong hồ sơ du học. Sửa học bạ hay phóng đại thành tích của bản thân có thể giúp bạn được chú ý hơn khi xin nhập học hay học bổng. Nhưng sự thật sẽ phơi bày trong quá trình học tập và hòa nhập của bạn. Điều này không những làm tổn hại đến hình ảnh của bạn trong mắt các thầy cô mà bạn sẽ trở thành “con sâu làm rầu nồi canh”, làm ảnh hưởng đến uy tín học sinh, sinh viên Việt Nam. Lòng tin xây lên thì khó, chứ phá đi thì rất dễ.Vậy làm thế nào để vượt qua được các ải visa, nhập học và học bổng?Câu trả lời là sự chuẩn bị kỹ lưỡng các bước đi càng sớm càng tốt. Bên cạnh đó, việc hiểu rõ khả năng của bản thân và trường bạn muốn theo học sẽ tiết kiệm cho bạn nhiều thời gian và tiền bạc. Ví dụ, nhiều bạn không đánh giá cao hệ thống Đại học Cộng đồng ở Mỹ, mà không biết rằng nhiều trường thuộc hệ thống này cho phép chuyển tiếp thẳng lên các đại học danh tiếng hàng đầu. Ngoài ra, chi phí cho đại học cộng đồng không tốn kém và đòi hỏi học lực đầu vào cũng không khắt khe.
+ Du học không chỉ học kiến thức, mà còn học thêm một nền văn hóa mới, nên đã du học thì phải học ở một nước có nền văn hóa khác với văn hóa Việt.
+ Đã du học thì phải du học ở nước mình cần đến để học, không nên du học tại chỗ, vừa mất tiền mà lại hiệu quả không đến nơi, đến chốn.
+ Du học là một việc nặng nhọc, nên đã du học thì phải kiếm học bổng để du học, không nên bỏ tiền túi để du học, vừa mất tiền mà lại vừa cực thân, trong khi học về chưa chắc được sử dụng đúng với vai trò và vị trí.
Về học bổng có 2 lọai học bổng mà nếu ai tìm hiểu sẽ biết:
1. Merit based Scholarship/Aid: Là lọai học bổng dành cho tài năng, chỉ cho từng năm học một. Sau một năm học tùy vào nhiều yếu tố: tài năng người học, khả năng tài chính của trường mà xét lại cho từng ứng viên có còn được nhận nữa không? Nhưng các bạn cứ yên tâm, nếu họ đã cho lọai này rồi cho ai đó, thì thường ít khi họ từ chối bạn cho năm sau. Ngọai trừ bạn sang đó để chỉ đi nhảy đầm và lái xe vun vít trên đường phố.
2. Need based Aid: Là lọai họ cho theo yêu cầu của bạn cho tòan khóa học, miễn sao bạn luôn hòan thành khóa học, không cần biết tài năng của bạn có xuất chúng hay không. Lọai này nhà trường tính rất kỹ càng, họ tính cho bạn hết khóa học, tức là họ chuẩn bị đủ tiền cho tòan bộ khóa học của bạn. Nó ảnh hưởng cho những ứng viên năm sau khi xin vào ngay tại khoa mà bạn đang theo học. Nên tôi khuyên các bạn khi chọn trường xin học bổng ở Mỹ, nên chọn trường nào có học bổng cho du học sinh, mà ở đó chưa có sinh viên Việt Nam nào đã và đang theo học là bạn sẽ dễ dàng nhận full scholarship, nếu bạn đủ tài năng.
Lại nói thêm về Need based aid thì khi bạn làm hồ sơ xin vào trường nào đó thì còn có chuyện trả giá. Ví dụ, bạn làm hồ sơ xin nhập học bằng con đường Need based Aid vào một trường A nào đó với yêu cầu cho học bổng 75%, vì gia đình và bản thân bạn chỉ có thể chi trả 25% thôi, nhưng trường A ấy sẽ không bao giờ cho bạn đúng 75%, mà họ sẽ gửi cho bạn một Big Envelope cho học bổng cho bạn chỉ 50% thôi, nếu bạn đồng ý thì trả lời trong thời hạn bao lâu, nếu không thì họ sẽ trao phần đó cho người khác! Lúc ấy bạn sẽ có 2 cách:
+ Cách đầu tiên và thượng sách là viết một bức thư làm sao đủ để Admission Committee đồng ý cho bạn 75% theo ý muốn. Nếu họ trả lời từ chối hoặc yên lặng thì bạn chỉ còn chọn cách thứ hai.
+ Nhận gói học bổng 50% và cố phấn đấu theo học năm thứ nhất thật tốt vừa yêu cầu họ cho 100% những năm sau và đồng thời làm hồ sơ chuyển trường khác đồng ý cho bạn 100%. Lúc đó, nếu họ có đủ kinh phí cho bạn, bạn chỉ cần xì cái Big Envelope của trường khác cho 100% thì chắc chắn họ sẽ giữ bạn lại. Còn nếu không thì bạn xin họ làm hồ sơ chuyển trường.
Nhưng còn một lọai học bổng thứ 3, lọai học bổng này về mặt bản chất nó cũng giống như lọai Need based Aid. Nhưng nó được gọi là Need Blind Aid. Cả nước Mỹ với gần 4.000 đại học được công nhận, chỉ lựa ra được có 373 trường tốt để đáng học, nhưng trong đó, cũng chỉ có 9 trường có chế độ học bổng Need Blind Aid cho du học sinh, mặc dù có đến mấy chục trường cho dân bản xứ chế độ này. Danh sách này từ niên khóa 2007 trở về trước chỉ có 6 trường, nhưng từ 2008 trở đi có thêm 3 trường bổ sung vào danh sách.
3. Need Blind Aid là bạn cần bao nhiêu họ cho bấy nhiêu, không trả giá, nếu bạn đủ thuyết phục họ nhận bạn nhập học. Dĩ nhiên đối với những trường này thì kinh phí dồi dào, phủ phê. Ví dụ một bạn làm hồ sơ xin hỗ trợ tài chính khi nhập học 1 trong 9 trường này, nhưng vì nghèo, không có tiền, bạn bảo: Tao muốn học trường mày, nhưng tao chỉ có thể đóng 1.000USD/năm, trong khi học, ăn, ở, bảo hiểm y tế, vé máy bay đi về nước tao, etc... lên đến 60.000USD/năm, mầy có nhận tao không? Nếu nhận bạn sẽ có Big Envelope. Dĩ nhiên khi nó đã nhận. Nó chẳng thèm 1.000USD của bạn! Lại nói thêm về Big Envelope: là một bì thư lớn, rất rất rất trịnh trọng và đẹp trong đó có những giấy tờ thông báo rất hòanh tráng, có những con mộc seal và ru băng vàng danh dự, những bức thư thật nồng ấm tình người, và hoan nghênh đón chào bạn đúng ngày đó, tháng đó nhập học với học bổng bao nhiêu tiền, gồm những phần nào rất chi tiết, mà trong đời người không phải ai cũng có thể cầm được trong tay. Nếu nó từ chối thì sẽ cũng rất lịch sự với một phong thư nhỏ như thư của ta thường gửi nhau qua bưu điện (small Envelope).
Danh sách 9 trường có chế độ Need Blind Aid đối với du học sinh là:
1. Amherst College in Massachusetts
2. Bates College in Maine
3. Dartmouth College in New Hampshire
4. Harvard College in Massachusetts
5. Massachusetts Institute of Technology (MIT)
6. Middlebury College in Vermont
7. Princeton University in New Jersey
8. Williams College in Massachusetts
9. Yale University in Connecticut
(Chú thích: Trường Đại học Washington, UW)
Các bạn có để ý không? Cã nước Mỹ có "hơn" 52 tiểu bang và thuộc địa, gần 4.000 trường được công nhận, nhưng chỉ có 373 trường tốt nhất. Song chỉ có 9 trường có đủ khả năng cho học bổng theo yêu cầu người du học. Và trong 9 trường đó thì có hơn 1/3 là của Massachusetts, chính xác là 4/9 trường, một thủ phủ giáo dục của miền Đông Bắc nước Mỹ thời kỳ đầu lập quốc và cho đến bây giờ. Và thậm chí tất cả 9 trường này đều thuộc các tiểu bang vùng đầu tiên lập nên nước Mỹ, ở miền Đông Bắc. Nên đã du học thì phải kiếm học bổng để học và nên tìm đến miền Đông Bắc để học, không nên cứ nhảy vào California hay Texas, những vùng có lắm người Việt, nhưng rất ít sự ưu ái cho du học sinh trong vấn đề cho học bổng.
Sau khi đã biết cách tìm kiếm trường đại học ở Mỹ được công nhận hay không công nhận rồi. Công việc của phụ huynh có con em đi du học tiếp theo là chọn trường cho con em mình phù hợp với ngành nghề nó yêu thích và phù hợp với chiến lược học tập của từng gia đình là một việc cần thiết. Như vậy để đáp ứng với chiến lược học tập của từng cá nhân ấy như thế nào? Bài viết này xin đáp ứng điều ấy cho những ai có con em mình sẽ, và đang du học ở Mỹ.
Trong chiến lược học tập có 2 loại chiến lược cho con em: chiến lược ngắn hạn và chiến lược dài hạn. Trong chiến lược ngắn hạn là hòng để đáp ứng cho việc học xong cử nhân và ra đi làm ngay có hiệu quả, mà gia đình và bản thân du học sinh chưa đủ khả năng đáp ứng học thêm sau đại học. Còn chiến lược dài hạn là chiến lược dành cho gia đình và du học sinh có thể tiếp tục làm một mạch xong tấm bằng cao nhất trong khoa học là PhD hay MD, v.v... rồi mới đi làm. Có 4 vấn đề lớn cần quan tâm khi chọn một trường đại học ở Mỹ cho con em mình khi phụ huynh quan tâm đến du học ở Mỹ như sau: Xếp hạng đại học ở Mỹ: Câu chuyện xếp hạng theo USnews từ trước năm 2008 là một sự tranh cãi kéo dài hàng chục năm giữa các trường và các giáo sư đại học với nhau. Đối với nước Mỹ, các trường đại học luôn đáp ứng cho mọi lứa tuổi và mọi nguyện vọng cho người học. Vì vậy việc phân loại xếp hạng chung cho các trường đại học luôn có tính tương đối, đặc biệt với xếp hạng mà các bậc phụ huynh và báo chí nước ta thường hay lấy ra để làm chuẩn mực là USnews. Điều này có nghĩa là một trường đại học có xếp hạng 1 nước Mỹ như Harvard, không có nghĩa là tất cả các chuyên ngành của Harvard là số một nước Mỹ. Vì dụ: nếu đem so sánh chuyên ngành engineering (kỹ sư) của Harvard thì không thể sánh bằng với chuyên ngành đào tạo engineering của University of Houston(UH). Mặc dù UH không nằm trong 100 đại học hàng đầu của nước Mỹ. Chính điều này mà từ năm 2008 đến nay bảng tin USnews không còn làm theo kiểu xếp hạng toàn trường như cũ, mà họ chuyển sang cách xếp hạng theo ngành học, top đại học công lập (top public schools), đại học danh giá nhất (Best Colleges), đại học ưu ái về học phí nhất (Economic diversity), v.v... Các loại đại học của Mỹ:
Ở Mỹ vì tính phổ cập giáo dục đại học đến người dân để thực hiện mục đích công bằng trong giáo dục, nên có hai loại trường đại học: two year college (community college: cao đẳng cộng đồng) và four year college. Ở four year college chỉ đào tạo cử nhân trở lên. Trong khi đó ở two year college có 3 chương trình đào tạo: (1) Transfer program (đào tạo kiến thức chính qui phục vụ cho chuyển trường) là đào tạo kiến thức chính quy 2 năm đầu của một sinh viên cần học cử nhân, nhưng học phí giá rẻ hơn nhiều lần so với four year college. Sau khi học 2 năm đầu kiến thức cơ bản của cử nhân, sinh viên xác định chuyên ngành mình chọn sẽ làm hồ sơ chuyển trường sang four yaer college để học tiếp cho hết cử nhân. (2) Vocational training (đào tạo hướng nghiệp) là loại hình đào tạo chỉ 1 năm, không cấp bằng (degree) mà chỉ cấp giấy chứng nhận (cerfiticate). (3) Academic training (đào tạo chuyên viên lành nghề) là chương trình đào tạo giống như cao đẳng dạy nghề như ở ta, chương trình chỉ dạy 2 năm về một nghề hữu dụng nào đó như: Computer Technician, electronic technician, accounting, nurse, marketing, business, etc... Những người này được cấp bằng (degree) như, AAS: Associate Applied Science hay bằng AS: associate of Science. du hoc my Chiến lược phát triển của đại học Mỹ:
Khác với thế giới, ở Mỹ mỗi trường đại học đều có một chiến lược phát triển riêng tạo nên sự đa dạng cho tất cả mọi người trên thế giới tha hồ chọn lựa theo sở thích, tài năng của mỗi cá nhân. Không trường nào dẫm chân lên chiến lược của trường nào trong suốt quá trình phát triển và trưởng thành của chúng. Có trường chủ yếu phát triển theo đại học nghiên cứu là chính, có trường có chiến lược theo hướng đại học thực hành là chính. Có trường tập trung vào chiến lược phát triển khoa học tự nhiên là chính, có trường tập trung vào phát triển khoa học xã hội là chủ yếu, v.v... mặc dù tất cả các đại học Mỹ luôn bao gồm nhiều chuyên ngành của cả tự nhiên và xã hội chứ không như kiểu trường đại học của ta, khi chưa có các đại học quốc gia (national university). Nếu nhìn sâu hơn nữa thì ta sẽ thấy trong chiến lược phát triển của một trường đại học Mỹ lại chỉ chú tâm vào 1 hoặc 2 chuyên ngành rất mạnh, dù nó không có tên tuổi trên các bảng xếp hạng nào cả. Ví dụ: Green Mountain College là một four year College thuộc Liberal of Art College ít tên tuổi, nhưng về các chuyên ngành Biology và Enviromental science chưa chắc các đại học danh tiếng nhất nước Mỹ đã có thể hơn! Khái niệm đại học:
Một yếu tố quan trọng không kém mà mọi người ở trong nước hay nhầm lẫn là cứ hễ được đặt tên University là đại học, còn college là coi thường xem là cao đẳng. Khác với các nước châu Âu, khi đặt tên University đòi hỏi trường đó phải có cơ hữu ít nhất 4 chuyên ngành: triết học và thần học, giáo dục, y khoa và luật khoa. Còn ở Mỹ, không theo qui luật đó của châu Âu, vì có trường không có đủ cơ sở vật chất và con người để thành lập khoa y vẫn cứ đặt tên là University. Nên nước Mỹ chia làm 2 loại đại học là: National University (NU) và Liberal of Art College (LAC). Sự khác nhau của 2 loại trường UN và LAC là ở độ lớn về khuôn viên, giảng viên, giáo sư, số lượng các chuyên ngành, số lượng sinh viên đang đào tạo hằng năm, mức độ lớn của thư viện trường có số đầu sách, và cấp học được đào tạo ở LAC nhỏ hơn NU, chứ không phải chất lượng giảng dạy hay đầu ra của sinh viên được đào tạo. Sau khi đã tổng hợp 4 yếu tố trên cha mẹ và bản thân sinh viên du học sẽ sắp đặt những yếu tố sau của riêng hoàn cảnh của mình để có cách chọn lựa đúng cho trường mà mình sẽ đến Mỹ để học. Những yếu tố đó như sau: 1. Khả năng ngoại ngữ của cá nhân đi du học đủ hay không? Tối thiểu cho college là 550 điểm on paper tương đượng với iBT là 79-80 điểm. Nếu muốn lấy học bổng phải hơn hoặc bằng 95 điểm iBT. 2. Khả năng học tập thể hiện ở điểm trung bình (GPA: Grade Point Average), điểm thi nhập học đại học (SAT: Scholastic Admission Test hay ACT: American College Test) có thể lấy học bổng hay không? 3. Hoàn cảnh kinh tế đủ để học đại học hay không? 4. Chiến lược học tập đại học ngắn hay dài? Tổng hợp hết các yếu tố trên sẽ cho một định hướng chỉ học ra cử nhân và đi làm, rồi sau đó có cơ hội đi học sau đại học hay học liên tục lên hết các cấp cho từng hoàn cảnh. Ví dụ: một học sinh có khả năng tài chính để học dài hạn lên tất cả các cấp không cần học bổng, khả năng học tốt, nhưng khả năng tiếng Anh chưa đủ thì nên chọn two year college ngay từ đầu để dễ dàng tiếp cận một nền văn hóa mới, học hỏi ngôn ngữ bản xứ bằng chương trình ESL (English as a Second Language) rồi vào transfer program của two year college, sau đó chuyển sang four year college học hết cử nhân. Khi chuyển four year college điều tối quan trọng là chọn trường có chuyên ngành mà mình thích mạnh chứ không cần vào các trường danh giá. Ưu điểm vào các trường có ngành mình chọn mạnh nhưng không danh giá là mình có thể cạnh tranh làm team leader cho nhóm nghiên cứu trợ lý cho giáo sư hoặc mình có thể cạnh tranh là assistant teaching cho giáo sư. Đó là điểm son trong lý lịch khoa học và giảng dạy. Nếu ôn luyện tốt GREE, GMAT, PCAT, DAT, LSAT, v.v... lấy điểm các test nhập học sau đại học này cao, đồng thời có ý tưởng mới, thì cơ hội đi thẳng lấy PhD ở một trường đại học danh giá là chuyện trong tầm tay. Điều này đã được chứng minh trên thực tế nhiều người Việt di dân khi tuổi đã cao và thành đạt trên đất Mỹ với tấm bằng PhD hay MD, etc... ở những trường đại học danh giá với khởi đầu bằng two year college (Community College: cao đẳng cộng đồng). Nó nói lên nước Mỹ là đất cho mọi cơ hội, khởi nguồn bằng tư duy giáo dục: công bằng trong giáo dục ở mọi sắc tộc, màu da, trình độ và lứa tuổi! Tóm lại, tiềm năng của con người là vô hạn, chuyện chọn trường đại học ở Mỹ là một kế hoạch cần tỷ mỷ và chi tiết. Nếu có kế hoạch tốt phụ huynh và bản thân học sinh sẽ thành công mỹ mãn, dù trong tất cả các yếu tố hội đủ chưa trọn vẹn. Nhưng, nếu sai kế hoạch có thể biến một học sinh đang có khả năng học tốt trở nên thất bại như một bài viết của tôi gần đây.
Không dễ dàng gì để một đời người có thể thốt lên được một chân lý gói gọn trong vài chữ. Phải trăn trở, phải trầm mình trong hòan cảnh lớn mới có được. Song muốn có được độc lập tự do, có nhiều con đường để đạt được nó. Tôi đồng cảm với những ai muốn kiếm tìm độc lập tự do bằng tài năng thực thụ của mình.
Cho nên, trong sự kiếm tìm học bổng du học thì nên tự mình kiếm tìm mà không nên thông qua bất kỳ tổ chức nào. Mặc dù khỏang 15 năm nay, ở Việt Nam có nhiều nguồn học bổng như VEF của chính phủ Mỹ hay 322 của bộ giáo dục, ... dễ dàng lấy học bổng hơn cách tự tìm học bổng cho mình. Nhưng cái gì dễ thì đều phải trả giá,.nếu lấy những lọai học bổng này để đi du học thì có nhiều ràng buộc, trong đó, có một ràng buộc là phải quay về làm việc cho nhà nước, mà không được tự do chọn lựa nơi mình đam mê hoặc đúng vai trò, vị trí mà mình có được sau khi hòan thành khóa học. Nên tôi chủ trương muốn nhận học bổng du học thì phải tự thân kiếm tìm. Ngòai việc được độc lập tự chủ ra, việc tự thân tìm kiếm sẽ giúp người học hiểu rõ đối tượng mình đến để học, hiểu rõ văn hóa nước mình đến học và tất cả những điều đó sẽ giúp người học tự tin, thăng tiến bằng khả năng đích thực của mình.
Có một bài viết năm 2008 của Amherst College họ cho rằng, họ phải chuyển chế độ Need Based Aid sang chế độ Need Blind Aid vì 2 lý do: nguồn tài chính của họ dồi dào hơn từ các nhà tài trợ và quan trọng hơn là những năm gần đây mặc dù thí sinh được học bổng Need Based Aid của họ có hồ sơ rất hòan hảo, song khi vào học thì khả năng rất kém. Nên họ muốn chất lượng sinh viên của họ được nâng cao đúng nghĩa. Tại sao chất lượng sinh viên được nhận vào có học bổng nhưng kém thì có nhiều lý do. Sẽ có dịp bàn luận sau.
Khác với cái gọi là "học bổng tòan phần" của hệ thống giáo dục Anh và thuộc địa của Anh. Mỹ khi đã gọi là cho học bổng tòan phần là cho tất tần tật ăn, ở, đi lại, bảo hiểm y tế, etc... Còn Anh, Úc, ... khi gọi là học bổng tòan phần thì họ chỉ có cho tiền học mà thôi. Tiền ăn, ở và đi lại... bạn phải tự lo lấy. Dĩ nhiên ở đây chỉ bàn về học bổng tự săn, chứ không phải học bổng liên kết giữa 2 chính phủ với nhau.
Bài viết này chỉ điểm qua một số điều quan trọng trong 3 trường đầu theo vần alphabet có chế độ Need Blind Aid. Dĩ nhiên không dành cho những ai chưa có khái niệm về việc tìm hiểu thông tin để làm một bộ hồ sơ săn học bổng như thế nào?
Amherst College in Matssachusetts:
1. Apply to Amherst College.
2. International Applicants.
3. Financial Aid & Cost.
4. Announcement of Amherst Scholarships.
5. Annoucement of Amherst Financial Aid.
Bates College in Maine: Các bạn cần lưu ý các links sau:
1. Apply to Bates College.
2. International & Oversea Students.
3. Student Financial Services.
4. Transfer Students.
Dartmouth College in New Hampshire: Các bạn cần quan tâm đến những links sau:
1. Undergraduate Admissions.
2. Financial Aid Office.
3. International Students.
4. Early, Regular & Transfer. Các bạn có tài năng mà đang theo học năm thứ nhất, thứ hai các đại học trong nước cũng đừng nên ngần ngại làm hồ sơ xin học bổng theo lọai Transfer Students nhé.
Ngòai ra, hãy cố gắng tìm kiếm apply theo lọai Leadership hoặc Full scholarship trên website nếu có ở mỗi trường. Một trường có lọai làm hồ sơ nhập học theo Leadership, mà các bạn apply theo dạng xin học bổng bình thường thì khó lòng nhận học bổng tòan phần.
Một điều quan trọng không kém là các bạn cần tìm hiểu những thông tin khác ngòai website của trường mà bạn muốn săn học bổng. Hai trang webs quan trọng mà các bạn cần là College Board và Princeton Review. Chúng sẽ giúp cho các bạn nhìn thấy rõ hơn những con số biết nói để các bạn quyết định cho mình. Phải tự thân nổ lực thì mới kiếm được 40-60 ngàn đô la mỗi năm ăn học. Sự nổ lực không chỉ có ở bản thân thí sinh mà cần một sự kết hợp nhuần nhuyển cả phụ huynh ở mọi vấn đề trong suốt quá trình làm hồ sơ.
Bất kỳ ai cũng có một khả năng như nhau về việc cố gắng để đi đến một mục tiêu khó khăn. Trí thông minh đóng vai trò rất nhỏ và nó chỉ đóng vai trò khai phá cho một vấn đề. Việc cố gắng để lấy một học bổng là ngang nhau cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp xã hội có một điều kiện đủ để học trong thời đại thông tin tòan cầu. Quyền năng của mỗi cá nhân là sự cần cù và máy tính nối mạng tòan cầu, mà không có đặc quyền cho của riêng ai.
Chúc các bạn may mắn
Những bạn trẻ đang học tập, nghiên cứu tại Mỹ cho rằng, các trường ở nước này đánh giá rất cao sự hoàn thiện của mỗi cá nhân. Chính vì thế, muốn đánh bại nhà cấp học bổng du học, ngoài học tốt, học sinh nên tham gia nhiều hoạt động xã hội, thể thao, nghệ thuật,... Theo năm vị khách tham gia chương trình giao lưu trực tuyến Săn học bổng du học Mỹ trên Tiền Phong Online chiều 24/7, hơn 4.000 trường đại học, cao đẳng ở nước này hàng năm cấp nhiều học bổng cho sinh viên quốc tế, trong đó có sinh viên Việt Nam. Nhưng, tìm học bổng du học Mỹ ở đâu? - bằng cách nào?” là những vấn đề nhiều bạn trẻ thắc mắc.
Theo Phùng Tuấn Đức - người được cấp học bổng Wesleyan Freeman danh giá, đang học tại Đại học Wesleyan, có rất nhiều nguồn để các bạn trẻ tiếp cận, tìm kiếm học bổng:
“Tìm qua website thông tin về các trường đại học của Mỹ như www.collegeboard.com,www.usnews.com, www.princetonreview.com, sau đó vào trang web riêng của từng trường mình kết để xem phần học bổng cho học sinh quốc tế” - Đức chia sẻ. Trong khi đó, Hồ Lê Việt Hưng - tốt nghiệp Đại học Colgate (Mỹ) năm 2007, hiện học thạc sĩ tại Học viện Kinh tế và Chính trị London (Anh) cho rằng, đa số trường đại học Mỹ đều trực tiếp cấp học bổng cho sinh viên quốc tế, trong đó, những trường lớn (trong top 50) đều có học bổng toàn phần, như Đại học Harvard, Princeton, Wesleyan, Amherst, Colgate... Điều kiện để nhận được học bổng, đặc biệt là học bổng toàn phần và bán phần ở trường đại học danh tiếng, là có điểm thi (bài kiểm tra khả năng học sinh THPT) SAT và TOEFL, bài luận, thư giới thiệu của thầy cô giáo, hoạt động ngoại khóa... Trước câu hỏi của bạn Thu Trang (Thanh Hóa): “Mình hiện là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Kinh tế, muốn hỏi những điều kiện để nhận học bổng du học Mỹ trong năm học thứ hai?”. Ngô Phương Thơ - sinh viên Đại học Mount Holyoke: Điều đầu tiên là phải tìm được danh sách các trường muốn nộp đơn và xem yêu cầu của các trường. Sau đó, thi TOEFL; SAT và phải chuẩn bị viết bài luận và các hoạt động ngoại khóa để đưa vào hồ sơ. Hạn nộp đơn thường là đầu và giữa tháng Một hằng năm. Quan tâm đến học bổng ngành y, dược, bạn Nguyễn Minh Trung (Đồng Nai), hỏi: “Xin học bổng đại học ngành y, dược tại Mỹ thế nào?”. Nguyễn Minh Nguyệt - sinh viên Đại học Lake Forest (Chicago) trả lời, học ngành y, dược tại Mỹ mất từ tám đến mười năm. Sau khi hoàn tất bốn năm đại học, kết thúc cao học, sau đó mới được cấp bằng. Hiện, không có cách nào để xin được học bổng ngành y, dược trước khi hoàn thành bốn năm đại học. Hãy PR bản thân: Các bạn trẻ du học Mỹ khẳng định, để thắng học bổng, ngoài thành tích học tập xuất sắc, ngoại ngữ ngon, mỗi học sinh, sinh viên còn phải biết tự quảng bá (PR) bản thân, qua hình thức thư giới thiệu, tham gia các hoạt động xã hội, thể thao, nghệ thuật… Nguyễn Minh Nguyệt cho hay, phần lớn các trường đại học ở Mỹ chấp nhận Common Application (hồ sơ xin học chung cho phần lớn các trường), trong đó yêu cầu bài luận. Nội dung yêu cầu thay đổi theo năm, nên tốt nhất các bạn có thể truy cập vào trang web http: //www.commonapp.org để tìm hiểu. “Nhiều người nghĩ, bài luận là nơi thể hiện khả năng viết, điều này chỉ đúng một phần. Người viết tận dụng cơ hội này để làm nổi bật những điểm mạnh của bản thân, tránh sa đà vào lối hành văn quá hoa mỹ, dài dòng, cũng đừng ngại thể hiện cái tôi của mình…” - Hồ Lê Việt Hưng chia sẻ kinh nghiệm. Còn Ngô Phương Thơ lại đề cập đến hoạt động ngoại khóa: Một hồ sơ xin vào đại học của Mỹ không chỉ có điểm số, mà còn phải có nhiều điểm khác như hoạt động ngoại khóa, bài luận. Một hồ sơ tốt mà có điểm thi cao, điểm các kì thi TOEFL hoặc SAT cao, hoạt động ngoại khóa nổi bật và bài luận hay thì thường được các trường dễ chấp nhận.
Để có thể xin vào học về khoa học (Science) tại các trường đại học ở Mỹ nói riêng và tại các nước phát triển nói chung, trước khi em c� |
|
1054_1308197777_Kinh-nghiem-cua-hoc-_4394_675_s.jpg
Kinh nghiệm phỏng vấn du hoc my – Để được đi du học Mỹ, ngoài việc được nhà trường mà các bạn chọn học chấp nhận và cấp thư mời học (hay còn gọi là I-20) thì các bạn phải vượt qua buổi phỏng vấn với các viên chức Lãnh sự quán Mỹ để có visa. Vậy các bạn cần chuẩn bị gì cho buổi phỏng vấn này? Trước hết để xin visa sinh viên, các bạn phải chuẩn bị những thủ tục như điền đơn (theo qui định như I-20, DS-160, …), đăng ký hẹn phỏng vấn, mua phiếu phỏng vấn, đóng phí SEVIS,..
Sau đó các bạn chuẩn bị những giấy tờ liên quan như hồ sơ chứng minh tài chính và hồ sơ học tập của mình để đi phỏng vấn.
Các bạn lưu ý, thời gian phỏng vấn chỉ kéo dài trong khỏang từ 3 đến 4 phút vì thế các bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để nói một cách ngắn gọn, rõ ràng nhưng chính xác và đầy tính thuyết phục. Các bạn hãy tự tin, đừng che giấu sự thật nên trả lời trung thực theo hồ sơ của mình, trong khoảng thời gian phỏng vấn ngắn ấy các bạn cần cung cấp cho viên chức càng nhiều thông tin càng tốt, và đặc biệt không nên trả lời theo cách học thuộc lòng như những lập trình có sẵn mà phải trả lời thật tự nhiên.
Các viên chức của Lãnh sự quán Mỹ có rất nhiều kinh nghiệm trong công việc của họ, do đó sẽ không quá khó để họ nhận ra được là các bạn đang nói thật hay không về việc bạn xin visa đi học.
Muốn có được kết quả tốt khi phỏng vấn, các bạn phải thỏa 3 điều kiện cơ bản khi xin visa du học:
1. Bạn thực sự có ý định du hoc my một cách nghiêm túc không? Hoặc bạn có khả năng học tốt tại Mỹ không? : Các viên chức Lãnh sự quán sẽ xem xét quá trình học tập của bạn trước đó cũng như kế họach học tập của bạn tại Mỹ. Do đó, các bạn cần mang theo những kết quả học tập mà các bạn có : như bảng điểm, học bạ, bằng cấp, giấy khen,…. Ngoài ra, bạn cũng phải nắm rõ về trường, khóa học, chuyên ngành học, …tại Mỹ cũng như những dự định nghề nghiệp của bạn sau này.
2. Bạn có đủ nguồn tài chính chi trả cho việc học của mình không? : Chính phủ Mỹ muốn biết các bạn có đủ nguồn tài chính hỗ trợ trong suốt thời gian bạn theo học tại Mỹ hay không để đảm bảo chắc chắn rằng bạn không bỏ học và đi làm bất hợp pháp.
Vì vậy bạn cần chứng minh tài chính rõ ràng và cụ thể : ai sẽ là người chi trả học phí cũng như chi phí ăn ở cho bạn?
- Nếu bạn được cấp học bổng thì bạn phải có những giấy tờ liên quan đến việc bạn được cấp học bổng đó.
- Nếu bạn được gia đình hoặc một cá nhân nào đó tài trợ, bạn phải làm thế nào để chứng tỏ rằng người tài trợ cho bạn có khả năng trả tiền cho việc học của bạn.
- Nếu là người khác (không phải cha mẹ), bạn cần giải thích với viên chức Lãnh sự quán về mối quan hệ của bạn với người này, để chứng minh cho việc tại sao người tài trợ này sẵn sàng cam kết trả hàng chục nghìn đôla cho việc học của bạn.
Bên cạnh đó, bạn cũng cung cấp cho các viên chức lãnh sự những bằng chứng về khả năng tài chính của người tài trợ cho bạn, đặc biệt là nguồn thu nhập và mức thu nhập. Điều này sẽ giúp cho viên chức lãnh sự tin rằng tiền sẽ được cung cấp đầy đủ trong suốt thời gian bạn học.
3. Bạn có ý định quay về Việt Nam sau khi hoàn tất khóa học của mình tại Mỹ hay không?
- Đây là điều quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất cho tất cả các viên chức Lãnh sự quán khi xem xét. Bởi lẽ, Luật thị thực của Mỹ quy định rằng các cán bộ lãnh sự phải coi tất cả các ứng viên xin thị thực không nhập cư là những người có ý định nhập cư cho tới khi họ có thể thuyết phục cán bộ lãnh sự rằng họ không có ý định đó. Vì vậy, theo điều luật này thì các viên chức lãnh sự luôn xem các bạn như đang có ý định định cư tại Hoa Kỳ vĩnh viễn cho đến khi nào các bạn chứng minh được điều ngược lại.
- Các bạn có thể đưa ra những bằng chứng dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tất cả chúng phải đủ mạnh mẽ để giúp cho viên chức lãnh sự tin là bạn sẽ không định cư Mỹ. Do đó các bạn nên chuẩn bị sẵn sàng để trình bày hoàn cảnh của mình thật rõ ràng và chính xác để đảm bảo rằng việc các bạn ở Mỹ chỉ là tạm thời.
Lưu ý:
- Các bạn nên sử dụng tiếng Anh cho phần phỏng vấn của mình và hạn chế sử dụng tiếng Việt vì nếu không các viên chức Lãnh sự quán sẽ cho rằng các bạn không đủ khả nặng tiếng Anh để đi du học. Khi bạn nghe không được họ nói bằng tiếng anh hãy nói “Pardon me” và nhìn người phiên dịch. Họ sẽ dịch lại cho các bạn nhưng nhất thiết các bạn phải trả lời họ lại bằng tiếng Anh. Trừ khi nào không thể nói bằng tiếng Anh, hoặc các bạn cảm thấy nói bằng tiếng Anh các bạn sẽ không thể giải thích hết ý thì hãy xin họ nói bằng tiếng Việt.
- Trong lúc chờ đợi đến lượt mình phỏng vấn, các bạn tuyệt đối không gây mất trật tự, không làm những hành vi khiến họ nghi ngờ vì sẽ bất lợi cho các bạn lúc phỏng vấn.
- Khi nghe gọi đến tên mình hãy thật bình tĩnh, hít một hơi thật sâu và tiến đến phòng phỏng vấn, mỉm cười và chào những người phỏng vấn” Good…, sir/madam”. Khi phỏng vấn xong dù được hay không các bạn cũng phải nói cám ơn và chào tạm biệt họ: “Thanks for your interview”.
- Hồ sơ phỏng vấn phải được sắp xếp gọn gàng theo thứ tự để khi viên chức phỏng vấn yêu cầu xem những giấy tờ nào thì các bạn có thể đưa cho họ ngay lập tức mà không bị lúng túng.
- Đặc biệt không nên xin visa không quá 120 ngày và không vào Mỹ trước 30 ngày so với ngày nhập học du hoc Mỹ
|
|
1053_1308197940_Kinh-nghiem-song-cua_4392_395_s.jpg
Làm bạn với sinh viên quốc tế, chịu khó tham gia các câu lạc bộ của trường đã giúp tôi nhanh hòa nhập với cuộc sống ở Mỹ. Gần đây tôi có đọc một số bài viết của các bạn trẻ Việt Nam về kỷ niệm du học của mình trên xứ Mỹ. Các bài này có vẻ mang xu hướng tiêu cực về việc du học ở vùng đất này. Tôi đã đến đất Mỹ với tư cách là du học sinh. Theo trải nghiệm của bản thân mình, quãng thời gian đó rất khó quên, tuy có khó khăn nhưng cũng tràn đầy niềm vui và sự thú vị. Sau đây cũng là câu chuyện của tôi và cũng là các cách thức tôi đã làm để học tiếng Anh tốt, hoà nhập nhanh, tránh trầm cảm, và một số kinh nghiệm khác.
Muốn du học ở Mỹ dễ dàng thì trước tiên cần phải nói tiếng Anh tốt. Muốn tiến triển nhanh trong bất cứ ngoại ngữ nào thì cũng cần phải sử dụng nó nhiều. Tôi đến du học nước Mỹ vào năm 2005 tại trường Green River Community College để học hai năm đầu của chương trình cử nhân của Mỹ. Trường của tôi nằm ở bang Washington và cách thành phố Seattle 45 phút chạy xe. Tôi được trường xắp xếp ở chung nhà với một gia đình người Mỹ. Việc ở chung với người Mỹ trong thời gian đầu giúp tôi tiến bộ trong tiếng Anh, giao tiếp, và cuộc sống ở Mỹ rất nhanh. Trong thời gian đó, cũng có một số bạn bè du học người Việt Nam của tôi đã không theo sự xắp xếp của trường và tư ý dọn ra ngoài ở với các gia đình người Việt. Hầu hết các bạn này về sau tiếng Anh cũng tiến bộ rất chậm vì suốt ngày sử dụng tiếng Anh rất ít. Một mặt không kém phần quan trọng nữa là tôi làm bạn rất nhiều với các sinh viên quốc tế đến từ các nước khác nhau. Vì tiếng mẹ đẻ khác nhau nên chúng tôi luôn sử dụng tiếng Anh để nói chuyện, việc này cũng làm tiếng Anh của tôi khá lên. Ngược lại, các sinh viên Việt bên này hay đi thành từng nhóm và rất ít khi giao tiếp với các sinh viên quốc tế và người Mỹ. Hậu quả của việc ít nói tiếng Anh và nói tiếng Việt là các bạn học được rất ít tiếng Anh và cách giao tiếp của Mỹ. Bên cạnh ngôn ngữ, một vấn đề khá nghiêm trọng mà nhiều du học sinh gặp phải khi mới sang đây là sự trầm cảm. Họ trầm cảm do nhiều lý do như xa nhà, xa người thân, đất nước lạ, văn hoá lạ, con người lạ. Để tránh trầm cảm thì sinh viên nên có các hoat động ngoài giờ ngoài việc học. Tôi đã tham gia một số câu lạc bộ sinh viên của trường để giết thời gian và tìm thêm bạn. Trường Green River cũng hay tổ chức các chuyến du ngoạn giá rẻ cho sinh viên và tôi có tham dự vài lần. Giá mỗi lần đi chơi như vậy chỉ từ 10-20 đô, chỉ bằng một phần năm số tiền bỏ ra nếu tự đi. Ngoài ra, vào các cuối tuần ngày thứ bảy, tôi và một số người bạn thân, một cô Thụy Điển gốc Phi và một cô người Hàn Quốc, thường hay bắt xe buýt lên Seattle để đi chơi và ăn uống. Giá cả của Seattle cũng không quá đắt đỏ, xe buýt thì chỉ có $1.50 một vòng đi lúc bấy giờ và ăn no cũng chỉ cần $10.00 là cùng. Ngược lại, một vài người bạn của tôi chỉ nằm nhà cả ngày vì than nhớ nhà hoặc sợ đi bộ. Khi trầm cảm mà làm vậy chỉ thêm trầm cảm mà thôi. Ngoài hai vấn đề chính trên, tôi cũng có một số kinh nghiệm khác cho các em có dự định đi du học. Thứ nhất là đừng nên vội vàng ra ở riêng. Khi mới qua Mỹ, lựa chọn kinh tế nhất là ở với host family/ home stay. Khi ở theo chương trình này, sinh viên sẽ được nấu cho ăn ba bữa và có thể được đưa đón đi học mỗi ngày. Việc ở riêng rất tốn kém vì sinh viên phải tự đi chợ, nấu ăn, trả tiền dịch vụ như điện, nước, internet, và tiền phòng. Cụ thể hơn, lúc đó tôi phải trả $500 một tháng cho host family, và giá phòng ở ngoài là $450 cho một căn hộ một phòng chưa tính tiền ăn và các dich vụ. Thế nhưng, chỉ có một số trường có dich vụ home stay. Trong trường hợp đó thì sinh viên nên ở ký túc xá trường vì gần trường và trả ít tiền dịch vụ. Mướn phòng chỉ kinh tế và rẻ khi sinh viên ở chung hai, ba người trở lên trong một phòng ngủ. Môt lời khuyên thứ hai là nếu các bạn đừng nên vội mua xe hơi nếu được học tập ở thành phố có hệ thống giao thông công cộng tốt. Mua xe hơi là cần phải mua bảo hiểm hàng tháng, mua xăng, và trả tiền bảo dưỡng. Đó là chưa kể đến trả tiền để đậu xe hoặc sửa chữa các trục trặc bất ngờ. Số tiền này ít nhất là hai, ba trăm đô một tháng. Trong khi đó, vé tháng cho các phương tiện công cộng chỉ chừng hai trăm đô trở lại. Các phương tiện này chạy rất đúng giờ nên sinh viên cũng chẳng sợ trễ học. Sử dụng phương tiên giao thông công cộng là một cách tiết kiệm tiền rất tốt cho sinh viên. Vào đoạn kết, tôi cũng xin nói rõ ở đây là quá trình du học vui nhiều hay buồn nhiều cũng tuỳ thuộc vào tính cách của mỗi sinh viên, và đây chỉ là kinh nghiệm của bản thân tôi. Các bạn rút kết ra ít hay nhiều bài học phù hợp từ bài viết này hay không là tùy bản thân mỗi người. Du học Mỹ có nhiều cái khổ như tốn kém, phải xa gia đình, quê hương trong một thời gian khá dài và phải tự lập 100%, nhưng đất nước Mỹ có một nền giáo dục bậc nhất thế giới và nhiều cơ hội tốt cho những sinh viên học tập, làm việc chăm chỉ. Bản thân tôi không chống lại việc sinh viên Việt họp thành các câu lac bộ để giúp đỡ lẫn nhau trong và ngoài trường học. Tất cả các giá cả trong bài viết này là giá cả của năm 2005-2006 ở bang Washington. Giá cả có thế thay đổi theo thời gian và theo từng tiểu bang.
Chúc các bạn thành công trong con đường du học ! |
1052_1308197986_Tim-kiem-thong-tin-b_4393_829_s.jpg
Tìm kiếm thông tin - bước di quan trọng khi quyết định du học
Nhiều người có ý định đi du học tại Mỹ, nhưng lại khá mơ hồ về những thông tin du học về đất nước mà mình sẽ đặt chân đến. Trong thực tế hiện nay có rất nhiều kênh thông tin khác nhau và bạn cần phải chú ý trong việc chọn lọc. Bên cạnh việc lấy thông tin từ Triển lãm, Hội thảo, Tổ chức du học, Văn phòng đại diện…
Cùng với sự phát triển của Công nghệ thông tin, internet đã trở thành một cộng cụ rất tiện lợi giúp bạn tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng. Dưới đây là một số website khá tin cậy có thể tham khảo trong quá trình tìm kiếm thông tin.
Chỉ cần đến với trang www.foreignborn.com/self-help/school/index.htm, phụ huynh, học sinh sẽ tìm được thông tin về cả hệ thống trường phổ thông tại Hoa Kỳ. Bản đồ trên trang web cho phép “tham quan” hơn 120.000 trường phổ thông gồm khoảng 92.000 trường công lập và 29.000 trường tư theo từng tiểu bang riêng biệt. Ở đó, phụ huynh sẽ có được địa chỉ, điện thoại, số học sinh và nhiều thông tin khác. Còn nếu như chỉ muốn tìm những trường công lập, phụ huynh cũng có thể vào địa chỉ www.greatschools.net hoặc chỉ cần tìm những trường tư thì có thể viếng thăm trang www.boardingschoolreview.com. Bên cạnh đó là trang thông tin về những trường chỉ dành cho học sinh nước ngoài www.schools.com, www.boardingschoolusa.com/toc.asp, http://nces.ed.gov/, www.nais.org.
Ngoài ra, chương trình trao đổi văn hóa, các ĐH cộng đồng cùng những khóa học tiếng Anh nâng cao cũng được rất nhiều phụ huynh quan tâm. Có thể tham khảo các địa chỉ như www.americancommunitycolleges.com, www.aspectfoundation.org/ex_study/high_school.html, www.cci-exchange.com, www.ayusa.org, www.uciep.org/index.php, www.esl.com, www.intensiveenglishusa.org. Một số trang web trong đó có khá đầy đủ thông tin về chương trình, một số khác còn cung cấp thêm đường dẫn đến hàng loạt khóa học, chương trình khác, giúp học sinh, phụ huynh có thêm nhiều chọn lựa.
Một bước quan trọng trong quá trình chuẩn bị đi du học chính là hoàn thiện khả năng ngoại ngữ và lấy được một chứng chỉ phù hợp với chương trình, bậc học mà mình mong muốn theo học. Không cần phải hỏi nơi này nơi khác như trước đây, người học có thể tự tìm thấy thông tin ở các trang web như www.ets.org/toefl (thông tin về TOEFL), www.mba.com (thông tin về GMAT), www.ets.org/gre (thông tin về GRE), www.lsac.orgwww.collegeboard.com (thông tin về SAT) và www.ets.org/toeic (thông tin về TOEIC). Đây là những kỳ thi đã được chuẩn hóa, rất cần thiết với học sinh, đặc biệt là những người có dự định du học bậc sau phổ thông tại Hoa Kỳ. (thông tin về LSAT),
Trong trường hợp phụ huynh, học sinh phải đối mặt với vấn đề tài chính, họ vẫn có thể tìm cách tháo gỡ được khi đầu tư thêm thời gian để tìm hiểu một số trang web như:www.fundingusstudy.com, www.fastweb.com, www.internationalstudent.com. Ngoài một số trang đề cập đến chương trình hỗ trợ tài chính, nhiều trang khác cung cấp khá nhiều thông tin về những chương trình học, học bổng dành cho du học sinh. Chẳng hạn trang www.scholarshipexperts.com cung cấp danh sách của hàng loạt học bổng khác nhau từ một số địa phương, tiểu bang hoặc của học bổng quốc gia hay một số học bổng đặc biệt của các trường. Nguồn học bổng cũng khá dồi dào ở một số địa chỉ khác như: www.collegescholarships.com, www.finaid.org, www.internationalscholarships.
Ngay cả những thông tin về visa du học, phụ huynh và học sinh cũng hoàn toàn có thể tự tìm kiếm ở trang web www.unitedstatesvisas.gov hoặc trang http://hanoi.usembassy.gov. Đặc biệt, để kiểm tra xem một trường nào đó có được công nhận hay không và đang đứng ở đâu trong bảng xếp hạng các trường ĐH của Hoa Kỳ, phụ huynh, học sinh chỉ cần vào địa chỉ của hội đồng kiểm định ĐH và sau ĐH Hoa Kỳ www.chea.org hoặc trang www.usnews.com.
Trong trường hợp cần trao đổi, thảo luận thêm về những vấn đề mà mình quan tâm, những người có dự định du học lẫn du học sinh đều có thể tham gia một số diễn đàn để được làm rõ những thắc mắc của mình. Một số diễn đàn tiêu biểu như: www.mba.us-guide.org, www.vietabroader.org, www.chuvanan.org, www.lehongphong.net, www.hn-ams.org...
Hãy có những lựa chọn sáng suốt nhất và cánh cửa các Trường học tại Mỹ luôn mở rộng chào đón các bạn học sinh, sinh viên.
Làm bạn với sinh viên quốc tế, chịu khó tham gia các câu lạc bộ của trường đã giúp tôi nhanh hòa nhập với cuộc sống ở Mỹ. Gần đây tôi có đọc một số bài viết của các bạn trẻ Việt Nam về kỷ niệm du học của mình trên xứ Mỹ. Các bài này có vẻ mang xu hướng tiêu cực về việc du học ở vùng đất này. Tôi đã đến đất Mỹ với tư cách là du học sinh. |
|
1051_1308198021_Kinh-nghiem-chi-tieu_4390_918_s.jpg
Nếu học Cao đẳng Cộng đồng, bạn có thể mất tới 20.000 USD cho một năm. Nếu muốn theo tiếp bậc đại học, con số này sẽ tăng lên gấp ba lần. Nếu không có người thân hoặc người quen nơi bạn sắp đến, bạn không thể tránh khỏi sự lạc lõng, bỡ ngỡ, khó khăn lúc ban đầu. Tuy nhiên, đừng lo, người Việt ở Mỹ bây giờ nhiều lắm, tập trung nhiều nhất tại California, Seattle, Texas, Washington D.C., Florida. Sẽ không khó cho bạn tìm được sự giúp đỡ từ họ, phụ thuộc vào sự dễ thương, lịch sự, lễ phép của bạn.
Ban đầu, nếu bạn chưa tìm được nơi ở, trường học nơi bạn ghi danh sẽ giới thiệu cho bạn một vài địa chỉ cho bạn share phòng ở chung với họ. Những nơi này cho share phòng từ 300 USD - 600 USD tùy thuộc giá cả sinh hoạt cao, thấp của từng tiểu bang và quy định của chủ nhà. Có nơi tính riêng từng khoảng chi phí, ví dụ như: tiền phòng 300 USD + điện nước rác 50 USD + tiền ăn 100 USD + Internet 40 USD = 540 USD tổng cộng. Có nơi bao ăn, bao ở, bao chi phí sinh hoạt = 600 USD - 650 USD/tháng. Cũng có nơi không bao ăn, share một phòng dao động từ 300 USD - 450 USD.
Mướn riêng một căn apartment (căn hộ chung cư một hoặc hai phòng) cho thoải mái sẽ chịu chi phí cao hơn. Căn một phòng tối thiểu từ 600 USD chưa tính chi phí điện + nước + điện thoại. Căn hộ hai phòng khoảng 1.200 USD. Xin nói thêm đây chỉ là giá cả chi phí ở thành phố Seattle, Washington. Chi phí ở California đắt hơn, đặc biệt ở Los Angeles, San Francisco. Thường các gia đình Việt Nam có nhà ở gần trường học hay cho share phòng kiếm thêm thu nhập. Bạn có thể hỏi dò thông tin qua các du học sinh ở trường hoặc tìm kiếm các tờ rao vặt bằng tiếng Việt dán loanh quanh văn phòng ghi danh nhập học.
Ở với người Việt sẽ rẻ hơn nếu bạn share tiền phòng với một hoặc hai bạn khác. Có nơi chỉ tính 450 USD/phòng/2 người + thêm một người chỉ phải trả thêm 50 USD tiền điện nước rác. Chịu khó ở chật một tí sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền. Tuy nhiên, ở với người Việt bạn sẽ mất đi cơ hội trau dồi tiếng Anh nếu đem so sánh với gia đình Mỹ. Người Mỹ tử tế lắm, ở chung với họ bạn sẽ được họ giúp đỡ đủ thứ: đưa đi xin giấy tờ, hướng dẫn đường xe bus, nói tiếng Anh với bạn. Bạn không giỏi tiếng Anh? Đừng lo, người Mỹ hay lắm, bạn hoa chân múa tay, diễn tả thế nào họ cũng sẽ tìm cách để hiểu bạn. Qua Mỹ, bước đầu nếu không có người thân dĩ nhiên bạn sẽ phải dùng phương tiện xe bus. Sẽ rất dễ bị lạc nếu bạn không biết rõ nơi bạn sắp đến để ra hiệu tài xế ngừng xe, hoặc số của chuyến xe mà bạn phải đón. Việc đầu tiên phải học cách coi lịch xe bus, mấy giờ có chuyến, cách bao lâu sẽ có chuyến kế tiếp (phòng khi bị trễ chuyến). Kế tiếp cẩn thận vào Internet kiểm tra xem chuyến xe bạn cần phải đón số mấy cho mỗi chuyến đi. Nói chung "đường đi là ở cửa miệng" nên bạn nhớ phải hỏi han cẩn thận nếu không muốn bị đi lạc. Tiếng Anh là yếu tố quan trọng trong việc thành công ở xứ người. Bạn không phải lo về vốn liếng tiếng Anh "trẻ con" của bạn. Đến Mỹ, bạn sẽ học tiếng Anh từ đầu, đôi khi còn tốt hơn vì bạn chưa bị "hư giọng" bởi cách phát âm tiếng Anh khác biệt ở trong nước. Tôi có biết một vài thầy/cô giáo dạy tiếng Anh ở Việt Nam khi qua đến Mỹ phải mất một thời gian không ngắn để nghe và nói được cho người Mỹ hiểu đấy! Các bạn còn trẻ, khả năng tiếp thu tiếng nước ngoài nhanh lắm, đừng lo. Có điều bạn phải cố gắng tận dụng mọi cơ hội khi ở Mỹ để trau dồi tiếng Anh. Kết bạn Mỹ, coi phim Mỹ có phụ đề Anh ngữ, tiếp xúc với người Mỹ khi có dịp.
Đừng ngại người khác cười vì vốn liếng tiếng Anh ít ỏi của bạn, bạn có phải là người Mỹ đâu, nói được cho Mỹ hiểu là giỏi rồi. Nói câu này họ không hiểu, tìm câu khác thế vào, nếu cần ra dấu cũng được, họ sẽ chịu khó đoán và nói lần theo ý bạn. Đây là lúc bạn học được một câu tiếng Anh để sử dụng trong trường hợp này rồi đó. Người Mỹ rất thích tìm hiểu tính cách và văn hóa của người nước ngoài. Họ sẽ vui vẻ hướng dẫn tiếng Anh cho bạn để được nói chuyện và tìm hiểu văn hóa của nước bạn. Tiền học phí cho du học sinh rất cao, gấp ba lần so với dân địa phương. Người địa phương như chúng tôi hồi mới sang Mỹ còn được chính phủ trợ cấp tiền học, tiền sách vở và tiêu xài cho đến khi tốt nghiêp đại học. Nhưng bạn thì không, bạn phải đóng tiền cho dù học Anh Văn ở level 1 cũng xấp xỉ 3.000 USD/quarter 3 tháng. Một năm có ba quarter, không tính khóa học mùa hè cũng đã ngốn hết của ba mẹ bạn hết 9.000 USD cộng với tiền bảo hiểm sức khỏe, sách vở vậy là 10.000 USD một năm. Bên cạnh đó, chi phí ăn ở, tiêu xài rẻ nhất cũng 600 USD/tháng, nhân lên 12 tháng là 7.200 USD. Ngoài ra, bạn cần tiền đi chơi, ăn nhà hàng, quần áo ... vị chi bạn mất 20.000 USD/năm để học đại học cộng đồng. Nếu bạn học hành chăm chỉ để lên tới cấp đại học thì chi phí sẽ lại nhân lên gấp ba. Tiền học ở bậc này là từ 30.000 USD - 45.000 USD cộng chi phí ăn ở, tiêu xài thêm 12.000 USD/năm. Nếu ba mẹ bạn là "đại gia" thì miễn bàn.
Các bậc cha mẹ có ý định cho con sang Mỹ học nên tính toán kỹ lưỡng khả năng tài chính của mình. Tôi biết có một vài trường hợp du học sinh, khi sang Mỹ cha mẹ họ chỉ chuẩn bị chi phí cho đúng một năm học thôi với hy vọng con mình sẽ tìm được việc làm để tự trang trải cho những năm kế tiếp. Tính toán này có thể chấp nhận được trong thời kỳ kinh tế Mỹ đang phồn thịnh. Việc làm ở nhà hàng Việt tràn lan, có thể đi làm chui kiếm hơn 2.000 USD/tháng nếu siêng năng. Nhưng với tình trạng kinh tế tuột dốc thảm hại hiện tại, sở thuế Mỹ truy lùng ráo riết những cơ sở kinh doanh mướn nhân viên chui trả tiền mặt (paid cash), để ngăn chặn tình trạng thất thoát tiền thuế lẫn công việc làm cho người dân địa phương, kiếm được một chân rửa chén, chạy bàn, hay xếp dọn ở chợ chẳng dễ dàng chút nào. Có em du học sinh loay hoay mãi chẳng kiếm được tiền đóng học phí, cuối cùng đành quay về Việt Nam, dang dở việc học, thật tội nghiệp. Đó chỉ là trường hợp đang những du học sinh chăm chỉ học tập. Một số du học sinh không nhỏ, đi Mỹ chỉ vì đua đòi, muốn bằng được bạn bè, hãnh diện với hàng xóm. Con số này qua đến Mỹ chẳng thiết tha việc học hành, ngày ngày rủ nhau đi ăn, đi chơi, đi shopping tóc nhuộm mỗi tuần mỗi màu, xăm mình, xỏ tai, xỏ mũi, xỏ mặt…. thật kinh khủng. Các bậc cha mẹ ở cách xa nửa vòng trái đất không có cơ hội bay sang thăm con, lâu lâu gọi sang nghe con than thở khóc lóc nhớ nhà, cuộc sống một mình ở xứ người thật vất vả, lại gửi thêm tiền qua an ủi. Có biết đâu các cô/cậu quý tử của họ bên này sống chung đụng từng cặp như vợ chồng. Đi ăn chơi 2,3 h sáng mới chịu về nhà. Mỗi một level ESL (English as a Second Language) lại "đúp" lớp một lần. Học ròng rã ba năm vẫn chưa qua được level ENG . Lời thật hơi khó nghe, nếu có đụng chạm xin được miễn thứ. Tôi chỉ muốn đóng góp vài kinh nghiệm, hy vọng các bạn hình dung được những khó khăn, thuận lợi, cũng như những đua đòi vấp ngã khó cưỡng được khi rời vòng tay gia đình, một mình đến đất nước của cơ hội. |
|
1050_1308198064_Nhungdieu-du-hoc-sin_4391_220_s.jpg
Du học Mỹ là điều mơ ước không những của nhiều sinh viên Việt nam mà còn là ước vọng của nhiều sinh viên trên khắp thế giới. Đi du học Mỹ là để tạo một cơ hội hiếm có để thâu thập và hấp thụ văn hóa, giáo dục và kỹ thuật của một nước được coi là tiến bộ về mọi mặt và giàu mạnh nhất thế giới.Ước vọng, cơ hội, chí hướng, quyết tâm ... bạn phải cân nhắc kỹ lưỡng để đi đến một quyết định đúng.
Ngành bạn chọn học có được trọng dụng ở Việt nam không? Kỹ thuật chuyên môn bạn sẽ được đào tạo ở Mỹ có thể áp dụng ở Việt nam không? Đi du học có thể sẽ mất đi một cơ hội hiếm có đang đón chờ bạn ngay trước mắt. Chuẩn bị về trình độ học vấn Một số trường đại học Mỹ có đòi hỏi cao về học vấn, chỉ chọn sinh viên xuất sắc cả về thứ hạng trong lớp và điểm thi TOEFL (Test of English as a Foreign Language ) và đôi khi còn về khả năng lãnh đạo nữa. Nhiều trường khác chọn lựa ít nghiêm ngặt hơn, tuy nhiên hầu hết các trường đều đòi hỏi bạn phải chứng tỏ rằng bạn có trình độ học vấn khá và bạn có tiềm năng để theo đuổi việc học ở cấp cao hơn. Nên nhìn một cách thực tế về quá trình học vấn của bạn và điểm thi TOEFL. Xin vào những trường có những đòi hỏi tương đối hợp với quá trình học vấn và ý thích của các bạn. Bạn có đủ trình độ Anh ngữ không Hấu hết các trường đại học và cao học ở Mỹ sẽ xét trình độ Anh ngữ của du học sinh mà cũng là một đòi hỏi để được nhận vào học bằng cách thi Trắc nghiệm Anh ngữ Ngoại ngữ (Test of English as a Foreign Language - TOEFL). Ðòi hỏi về trình độ thông thạo Anh ngữ thay đổi tùy theo trường và tùy theo mỗi phân khoa khác nhau nữa. Bạn có đủ tiền để theo học không? Phí tổn gồm cả tiền học phí, tiền tiêu xài, sách vở và những chi tiêu khác. Học phí thay đổi tùy theo trường, tuy nhiên học phí là khoảng phí tổn nặng nhất. Nên lưu ý là học phí ở các trường đại học Mỹ khác biệt rất xa, chẳng hạn học phí ở một trường đại học cộng đồng có thể vào khoảng 2.000 đô la một năm, trong khi đó, học phí và tiền ăn ở nội trú ở một đại học tư có thể lên đến 28.000 đô la. Học bổng và tiền tài trợ cho du học sinh ở cấp đại học rất là hiếm và cạnh tranh cao. Bạn có chuẩn bị để sống ở một nước có văn hóa khác Sống và học ở Mỹ trong một thời gian dài, khác với đi du lịch ở Mỹ trong vài tuần vài tháng. Hăy tưởng tượng đến cảnh sống trong một khung cảnh và văn hóa mới có khả năng làm thay đổi con người bạn, rồi làm thế nào bạn có thể thay đổi ngược lại để hội nhập trở lại vào đời sống ở Việt nam sau khi trở về nước. Bạn có thể phải chấp nhận hoàn cảnh sẽ phải xa gia đình và bè bạn trong một thời gian lâu.
CHỌN TRƯỜNG THÍCH HỢP Thường các trường đại học Mỹ được thừa nhận (accredited) bởi một cơ quan (agency) được công nhận bởi Bộ Giáo Dục Mỹ. Sự thừa nhận này bảo đảm cho sinh viên là những đại học này đã hội đủ tiêu chuẩn giáo dục của Bộ Giáo dục Mỹ. Điều quan trọng cần nhớ là nếu bạn có văn bằng cùa một trường không được chứng nhận thì văn bằng này cũng sẽ không được công nhân bởi những trường khác hoặc bởi các công ty khi ra làm việc. Chất lượng Bởi vì có nhiều sắc thái của nền giáo dục Mỹ, nên chất lượng của từng đại học và chương trình giáo dục của nó, ngay cả khi được thừa nhận, củng khó mà thẩm định một cách chính xác. Trường đắt tiền nhất chưa hẳn là trường giỏi nhất. Hơn nữa, không hẳn là tất cả mọi ngành của một trường nổi tiếng đều có cùng một chất lượng ngang nhau. Các khía cạnh giáo dục khác Các bạn đi du học đại học, nếu bạn đã biết và chọn ngành nghề của mình thì nên xem xét khoa (department) mình chọn lớn hay nhỏ so với những khoa khác của trường, chiều sâu của các nghiên cứu khoa học. Có trường chú trọng nhiều về hiếu nghị, có trường chú trọng về chu đáo cho từng cá nhân hơn. Những trường khác có thể nhấn mạnh độc lập về học tập, có trường chú tâm hơn về phương diện cố vấn và kiểm soát cá nhân. Phí tổn Khi chọn trường bạn cũng nên nghĩ đến phí tổn sinh hoạt và cư trú của khu vực chung quanh trường. Cũng như học phí, phí tổn sinh hoạt và cư trú cách biệt rất lớn giữa tiểu bang này với tiểu bang khác hoặc khác biệt ngay cả từ thành phố này qua thành phố khác trong cùng một tiểu bang. Chương trình học Anh ngữ Nếu khả năng Anh ngữ của bạn có giới hạn, bạn có lẻ sẽ cần xin học các chương trình Sinh ngữ Anh ngử (English as a Second Language - ESL). Một số trường có thể sẽ chấp nhận cho bạn vào học với điều kiện bạn phải trao giồi khả năng Anh ngữ của mình bằng cách theo học những khóa Anh ngữ đặc biệt hoặc phải hoàn tất những môn Anh ngữ của chương trình đại học trước khi được chính thức nhận vào trường. Bảo hiểm sức khoẻ Nhiều trường đại học có bệnh xá để chửa trị những bệnh thông thường (cảm, cúm, bệnh ngoài da, đau nhức …) với giá rất hạ hoặc miễn phí cho sinh viên đang theo học tại trường. Tuy nhiên điều nên lưu ý là phí tổn bệnh viện và trị liệu cho những bệnh nặng rất là tốn kém ở Mỹ, cho nên bảo hiểm sức khỏe rất cần thiết. Cư trú Cư trú là một phần quan trọng không kém trong sự chọn lựa nơi học. Đa số ở các khu chung quanh đại học bạn có thể tìm được chung cư và nhà riêng với giá phải chăng. Tuy nhiên, trong mùa nhập học có cả hằng trăm hằng ngàn sinh viên như bạn đến cư ngụ chung quanh khu đại học, nên nhu cầu cư trú có thể gia tăng và có thể khó kiếm. Nhiều trường có đại học xá cho sinh viên. Bạn củng nên chú ý là một số trường ở thành phố lớn có thể không có đại học xá cho sinh viên. An ninh cá nhân An ninh cá nhân là điều mọi người đều cùng quan tâm ở khắp mọi nơi. Nhất là ở Mỹ mà chúng ta ai cũng có nghe qua ít nhiều về tội ác xãy ra rất thường ở Mỹ, nhất là ở những thành phố lớn. Gần như là các cơ quan lớn hay trường học ở Mỹ đều có thống kê về tội ác đã xãy ra ở trong khuôn viên trường hoặc thành phố nơi trường đại học tọa lạc. Do đó dù nơi bạn học bất cứ ở đâu, bạn phải luôn luôn cẩn thận về mọi mặt về an toàn cá nhân và củng nên biết về một số cách thức phòng ngừa an toàn cá nhân. Sinh hoạt xã hội Phần đông các trường đại học đều có nhiều sinh hoạt cộng đồng như câu lạc bộ và hiệp hội có liên quan đến đời sống sinh viên. Chẳng hạn như các hội về văn hóa hay tôn giáo, câu lạc bộ thể thao hay đoàn thể thao, câu lạc bộ văn nghệ, hội sinh viên. Địa thế và thời tiết Thời tiết có thể quan trọng đối với những bạn không chịu được khí hậu ở những vùng lạnh của Bắc Mỹ như Michigan, Minesota, Illinois, New York, Massachutsett, Vermont. Do đó bạn nên tìm hiểu khí hậu nơi trường bạn muốn theo học xem bạn có thể thích hợp với thời tiết nơi đó không. Lý do là thông thường khung viên trường đại học Mỹ rất rông lớn và khi bạn phải đổi lớp này sang lớp khác, bạn phải đi bộ 5, 10, hay 15 phút có thể trong khí hậu buốt giá dưới zero độ C. |
1049_1308198119_-Cao-dang-cong-dong-_4151_557_s.jpg
Trong số các bạn sinh viên Việt Nam lựa chọn du học Mỹ theo hình thức học vào trường đại học, thì có tới trên 60% các bạn sinh viên lựa chọn theo học tại các trường cao đẳng cộng đồng như một bước chuyển tiếp thuận lợi để vào học đại học vì các ưu điểm mà trường cao đẳng cộng đồng mang lại là: các lớp học có quy mô nhỏ hơn, sinh viên quốc tế được quan tâm nhiều hơn và tiết kiệm tiền học phí.Cao đẳng cộng đồng San Francisco, một lựa chọn tuyệt vời cho các bạn sinh viên dự định du học Mỹ.
Trường City College of San Francisco (CCSF) được thành lập từ năm 1935 là một trường công lập hệ 2 năm của hệ thống giáo dục bậc cao. Trường được hiệp hội các trường Trung học và Đại học phía tây (WASC) chính thức công nhận. Cơ sở chính của trường toạ lạc trên một đỉnh đồi nằm ở phía tây nam của thành phố quốc tế San Francisco xinh đẹp.
Trường nằm ở vị trí thuận lợi cho hầu hết các phương tiện công cộng của từ khắp nơi của San Francisco, từ bán đảo đến miền nam hay từ vịnh biển phía đông.
Trường cũng là một trong những đại học cộng đồng đa dạng nhất của cả nước. Trường đón nhận hàng năm 1.200 sinh viên quốc tế đến từ 90 quốc gia khác nhau.
LÝ DO LỰA CHỌN TRƯỜNG
- Yêu cầu đầu vào thấp để lấy bằng cử nhân
- Chi phi hợp lý
- Tỷ lệ cao khi chuyển tiếp vào các trường đại học danh tiếng
- Chương trình học phong phú
- Có chương trình tiếng Anh dành cho sinh viên chưa có chứng chỉ về tiếng
CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM
CCSF cung cấp hơn 50 chương trình học thuật và hơn 100 chương trình học nghề. Tất cả các chương trình đều đạt yêu cầu về giáo dục đại cương của các chương trình ĐH 4 năm.
1. Toán & Khoa Học
2. Sinh học
3. Khoa học về sức khỏe
4. Công nghệ chăm sóc sức khoẻ
5. Kinh doanh * kinh doanh quốc tế
6. Khách sạn du lịch
7. Truyền thông & đồ họa
CÁC KỲ NHẬP HỌC
- Kỳ Thu 2010: ngày 16 tháng 08
- Kỳ Xuân 2011: ngày 18 tháng 01
- Kỳ Hè 2011: ngày 06 tháng 06
Bạn nên nộp hồ sơ ít nhất 3-4 tháng trước khi khóa học khai giảng. Như vậy bạn mới có đủ thời gian để xin thư mời học, I-20 và hoàn thành thủ tục xin visa du học Mỹ.
THỦ TỤC NỘP HỒ SƠ
Hoàn thành và ký form : Academic Program Application Form (của trường)
Chứng chỉ tiếng Anh : Ielts :4.5 hoặc Toefl iBT: 52, Toefl máy 152, Toefl giấy : 473
Bằng cấp, Học bạ, bảng điểm
Xác nhận số dư ngân hàng 30.000 USD
Phí ghi danh (không hoàn lại)
Copy hộ chiếu
CÁC CHI PHÍ
Học phí:
- Khóa tiếng Anh: 2.995 USD/kỳ (18 tuần)
- Khóa chính: 2.525$ /kỳ (12 môn học / kỳ)
Phí sinh hoạt: khoảng 13.000$/năm
DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHUYỂN TIẾP
City College of San Francisco là một trong 10 trường CĐ Cộng Đồng hàng đầu có sinh viên chuyển tiếp vào hệ thống ĐH tư thục và công lập của California. Những thỏa thuận của CCSF và các trường ĐH tạo thuận lợi cho sinh viên chuyển tiếp lên ĐH. Mọi SV quốc tế đều được hỗ trợ trong việc hoạc định chương trình học trogn tương lai. Một hệ thống các tư vấn viên luôn sãn sàng hỗ trợ SV.
1. Trường ĐH Los Angeles
2. Trường ĐH Công Lập California
3. Trường ĐH San Francisco State University
4. Trường ĐH Berkely
5. Trường ĐH Davis
6. Trường ĐH San Diego
* Học phí thay đổi hàng năm theo quy định của trường |
1048_1308198160_Nhung-dieu-can-chuan_4389_221_s.jpg
Bạn nộp hồ sơ xin học tại một quốc gia phát triển và điều duy nhất khiến bạn lo lắng là buổi phỏng vấn trực tiếp với người đại diện của trường. Những mách nước dưới đây có thể giúp bạn chuẩn bị tốt cho buổi phỏng vấn. Và luôn luôn nhớ rằng "Đây là một cuộc trò chuyện".
Buổi phỏng vấn Visa thành công phải cần sự chuẩn bị tốt. Bạn nên giữ tâm trạng mái và coi buổi phỏng vấn như một cuộc đối thoại hơn là một buổi kiểm tra. Những người phỏng vấn có mặt tại đó để tìm hiểu về bạn vậy thì hãy coi đó như một cơ hội để bạn trình bày mục tiêu, kế hoạch và những mối quan tâm với các nhà giáo dục có kinh nghiệm. Chuẩn bị Để giảm mức độ lo lắng và nâng cao kinh nghiệm của bạn bằng cách tham khảo và tìm hiểu những câu hỏi có thể được hỏi trong buổi phỏng vấn. Dưới đây là một số vấn đề có thể bạn sẽ được hỏi: Lý lịch của bạn: quá trình học tập, kinh nghiệm nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và sự chăm sóc nuôi dưỡng của cha mẹ. Thành tích học tập: điểm trung bình qua mỗi cấp học, bạn đứng thứ hạng bao nhiêu, các thành tích tham gia hoạt động ngoại khóa khác mà bạn đã đạt được như các hoạt động thể thao, dự án nghiên cứu khoa học… Dự định tương lai của bạn: đó là những kế hoạch cho việc học tập và nghề nghiệp. Khả năng tài chính và các nhu cầu: bạn đã có thu nhập riêng và khả năng tiết kiệm hay thu nhập của gia đình bạn như thế nào? Nhu cầu tài chính của bạn là bao nhiêu khi dự tính cho việc đi du học. Các thông tin về tìa chính là rất quan trọng đặc biệt với những thí sinh đi du học tự túc. Thông tin cá nhân: có thể bạn sẽ được hỏi các câu hỏi để có thể bộc lộ mình như: “Điều gì là quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn”. Câu trả lời của bạn sẽ góp phần giúp người phỏng vấn có thêm cơ sở để quyết định liệu bạn có phù hợp với trường học mà bạn lựa chọn xin học tập.
Những kiến thức cơ bản cho buổi phỏng vấn Bạn muốn thoải mái để cùng trao đổi với những người phỏng vấn và có không khí tự nhiên để thể hiện mình nhưng bạn đến đây với tư cách là một người được phỏng vấn bởi vậy vẫn không thể thiếu những quy tắc cơ bản: Đúng giờ: bạn nên kiểm tra thời gian và địa điểm cho buổi phỏng vấn để dự tính thời gian để không đến quá sớm và cũng không quá muộn. Trang phục: nên có trang phục phù hợp với vai trò là một người được phỏng vấn để không gây phản cảm với mọi người mà bạn thì vẫn tự tin thoải mái với bộ trang phục của mình. Không nên mặc quần Jean áo phông đến tham gia một buổi phỏng vấn. Cũng đừng quên những chi tiết nhỏ khác nhưng cũng không kém phần quan trọng như đầu tóc, tư thế dáng đi. Tạo ấn tượng tốt ngay từ đầu: khi bắt đầu vào phỏng vấn bạn nên bắt tay, giới thiệu bản thân, giao tiếp cả bằng ngôn ngữ và ánh mắt. Trả lời ngắn gọn và trung thực: cố gắng tóm tắt các câu trả lời của bạn một cách nhanh nhất và dễ hiểu. Người phỏng vấn sẽ tiếp tục đưa ra câu hỏi nếu họ muốn biết thêm thông tin. Chuẩn bị sẵn những câu hỏi: đây là một cách để bạn thể hiện sự quan tâm thực sự tới chương trình giáo dục, cuộc sống… nơi mà bạn dự tính theo học. Những thông tin có trong hồ sơ xin học: bạn nên kiểm tra lại những thông tin đã trình bày trong hồ sơ xin học để không có những sai lệch khi bạn phải trình bày lại trong buổi phỏng vấn. Giải quyết tình huống: đây là một cách để người phỏng vấn có thêm cơ sở để đánh giá bạn. Không nên ngần ngại nói “Tôi không biết” hay đặt ra câu hỏi. Nếu bạn vẫn chưa hiểu câu hỏi nên hỏi lại để trả lời vào đúng vấn đề. Cám ơn: không quên nói lời cảm ơn trước khi rời buổi phỏng vấn.
|
|
1045_1308198209_Xep-hang-cac-truong-_4075_584_s.jpg
Ưu thế: Là Cường quốc phát triển nhất nhì thế giới, nền giáo dục có tính thực tiễn cao.
Giới thiệu chung
Mỹ giáp Canada, Đại Tây Dương, Mexico và Thái Bình Dương, gồm 53 bang, diện tích vào khoảng 9.629.047 km2, khí hậu khác biệt giữa các vùng, là quốc gia đa dân tộc, đa văn hoá.
Là một đất nước trẻ, được coi là phất triển nhất trên thế giới về các mặt: kinh tế, giáo dục, công nghệ, khoa học...
Sớm đầu tư cho giáo dục , có một đội ngũ tri thức được đào tạo cơ bản, có nền công nghệ tiên tiến, các ngành công nghiệp của Mỹ có những bước tiến dài và đạt những thành tựu cao trong suốt thời gian qua, góp phần thúc đẩy thêm sự thành công trong giáo dục Mỹ..
Giáo dục
Mỹ có trên 10,000 trường phổ thông. Chương trình phổ thông của Mỹ là chương trình 12 năm.
▪
Mỹ có trên 3300 trường đại học và các học viện cao học được công nhận với quy mô lớn nhỏ khác nhau, gồm:
|
▪
|
Các trường cao đẳng/ đại học 2 năm
|
:
|
Đại học cộng đồng, trường kỹ thuật dạy nghề, đào tạo và trường đại học đại cương)
|
|
▪
|
Các trường đại học 4 năm
|
:
|
hệ thống college (đào tạo cử nhân), hệ thống University (đào cử nhân và các bậc học đại học khác), hệ thống đại học công nghệ, bách khoa (chuyên ngành khoa học).
|
|
▪
|
Các trường chuyên nghiệp
|
:
|
Các trường y, luật, kinh doanh (phần lớn đào tạo bậc sau đại học).
|
Nhập học
|
▪
|
Khoá tiếng Anh
|
:
|
Khai giảng liên tục trong năm;
|
|
▪
|
Khoá chuyên nghành
|
:
|
Tháng 1 (kì học mùa xuân), tháng 5 (kì học màu hè) và tháng 9 (kì học mùa thu).
|
Chương trình du học
|
▪
|
Chương trình Anh ngữ
|
:
|
Dành cho mọi đối tượng có nguyện vọng du học nghiêm túc, từ 15 tuổi trở lên.
|
|
▪
|
Chương trình phổ thông
|
:
|
Học sinh từ 15 tuổi trở lên, học lực từ 6,0 trở lên, các lớp học tương ứng với các lớp học tại Việt nam. Không nhận học sinh hết lớp 11 sang du học phổ thông.
|
|
▪
|
Chương trình cao đẳng, đại học
|
:
|
Dành cho học sinh đã hết lớp 12 tại Việt Nam trở lên , tiếng Anh TOEFL 550 - 600
|
|
▪
|
Chương trình thạc sỹ, tiến sỹ
|
:
|
Dành cho sinh viên tốt nghiệp đại học.
|
|
▪
|
Chương trình thực tập sinh
|
:
|
Dành cho sinh viên cao học
|
Học bổng Đại học, cao học từ 20%- 80% tại các trường đại học McNeese, Western Kentucky, Southern Indiana, West Texas A&M, Marshall. Lưu ý: Bằng tú tài, cao đẳng và đại học ở Việt Nam (cả chính quy và tại chức) đều được các trường đại học ở Mỹ công nhận. Vì vậy, sinh viên Việt Nam sẽ không phải học thêm các lớp chuẩn hoá hay 1 năm dự bị trước khi vào đại học như ở một số nước khác. Ngoài ra sinh viên Việt Nam cũng có thể “chuyển” kết quả một số môn đã học tại các trường CĐ/ ĐH ở Việt Nam sang một số trường cao đẳng và đại học ở Mỹ. Dự toán kinh phí (USD) Tuỳ theo trường bạn chọn, học phí có thể sẽ rất cao hoặc ngược lại, từ $4.000 - $28.000/ năm. Thông thường chi phí tuỳ thuộc vào danh tiếng của trường đó, trường càng nổi tiếng thì chi phí càng cao.
|
Tiếng Anh (USD/ tuần)
|
PTTH (USD/ năm)
|
Cao học (USD/năm)
|
Đại học (USD/năm)
|
Sau đại học (USD/năm)
|
Ăn ở (USD/năm)
|
|
200 - 250
|
6000 - 14000
|
5000 - 7000
|
5000 - 18000
|
5000 - 12000
|
3500 - 7000
|
Làm thêm Cơ hội làm thêm ngoài giờ học như dạy tiếng nước ngoài, phục vụ nhà hàng, bán hàng, gia sư, văn phòng, giao hàng … Mức lương: USD 14- 16/ giờ.
Danh sách các trường đại học (danh sách được trích từ USNews Report ) http://www.usnews.com/usnews/edu/college/rankings/rankindex_brief.php
Trường loại A:
|
1
|
Harvard University (private school)
|
http://www.harvard.edu
|
|
2
|
Princeton University (private school)
|
http://www.princeton.edu
|
|
3
|
Yale University (private school)
|
http://www.yale.edu
|
|
4
|
Massachusetts Institute of Technology (private school)
|
http://www.mit.edu
|
|
5
|
California Institute of Technology (private school)
|
http://www.caltech.edu
|
|
6
|
Duke University (private school)
|
http://www.duke.edu
|
|
7
|
Stanford University (private school)
|
http://www.stanford.edu
|
|
8
|
University of Pennsylvania (private school)
|
http://www.upenn.edu
|
|
9
|
Dartmouth College (private school)
|
http://www.dartmouth.edu
|
|
10
|
Washington University, St Louis (private school)
|
http://www.wustl.edu
|
|
11
|
Columbia University (private school)
|
http://www.columbia.edu
|
|
12
|
Northwestern University (private school)
|
http://www.nwu.edu
|
|
13
|
University of Chicago (private school)
|
http://www.uchicago.edu
|
|
14
|
Cornell University (private school)
|
http://www.cornell.edu
|
|
15
|
John Hopkins University (private school)
|
http://www.jhu.edu
|
|
16
|
Rice University (private school)
|
http://www.rice.edu
|
|
17
|
Brown University (private school)
|
http://www.brown.edu
|
|
18
|
Emory University (private school)
|
http://www.emory.edu
|
|
19
|
University of Notre Dame (public school)
|
http://www.nd.edu
|
|
20
|
Vandertbilt University (private school)
|
http://www.vandertbilt.edu
|
|
21
|
University of California, Berkeley (public school)
|
http://www.berkeley.edu
|
|
22
|
University of Virginia (public school)
|
http://www.virginia.edu
|
|
23
|
Carnegie Mellon University (private school)
|
http://www.cmu.edu
|
|
24
|
Georgetown University (private school)
|
http://www.georgetown.edu
|
|
25
|
University of Michigan, Ann Arbor (public school)
|
http://www.umich.edu
|
Trường loại B+:
|
26
|
University of California, Los Angeles (public school)
|
http://www.ucla.edu
|
|
27
|
Tufts University (private school)
|
http://www.tufts.edu
|
|
28
|
Wake Forest University (private school)
|
http://www.wfu.edu
|
|
29
|
University of North Carolina, Chapel Hill (public school)
|
http://www.unc.edu
|
|
30
|
University of Southern California (private school)
|
http://cwis.usc.edu
|
|
31
|
College of William and Mary (private school)
|
http://www.wm.edu
|
|
32
|
Brandeis University (private school)
|
http://www.brandeis.edu
|
|
33
|
University of California, San Diego (public school)
|
http://www.ucsd.edu
|
|
34
|
University of Wisconsin, Madison (public school)
|
http://www.wisc.wisc.edu
|
|
35
|
New York University (private school)
|
http://www.nyu.edu
|
|
36
|
University of Rochester (private school)
|
http://www.rochester.edu
|
|
37
|
Case Western Reserve University (private school)
|
http://www.cwru.edu
|
|
38
|
Georgia Institute of Technology (public school)
|
http://www.gatech.edu
|
|
39
|
Lehigh University (private school)
|
http://www.lehigh.edu
|
|
40
|
Boston College (private school)
|
http://www.bc.edu
|
|
41
|
University of Illinois, Urbana-Champaign (public school)
|
http://www.uiuc.edu
|
|
42
|
Yeshiva University (private school)
|
http://www.yu.edu
|
|
43
|
University of California, Davis (public school)
|
http://www.ucdavis.edu
|
|
44
|
Tulance University (private school)
|
http://www.tulance.edu
|
|
45
|
University of California, Irvine (public school)
|
http://www.uci.edu
|
|
46
|
University of California, Santa Barbara (public school)
|
http://www.ucsb.edu
|
|
47
|
University of Washington (public school)
|
http://www.washington.edu
|
|
48
|
Pennsylvania State University, University Park (public school)
|
http://www.psu.edu
|
|
49
|
Rensselaer Polytechnic Institute (public school)
|
http://www.rpi.edu
|
|
50
|
University of Florida (public school)
|
http://www.ufl.edu
|
Trường loại B:
|
51
|
George Washington University (private school)
|
http://www.gwu.edu
|
|
52
|
Pepperdine University (private school)
|
http://www.pepperdine.edu
|
|
53
|
University of Maryland, College Park (public school)
|
http://www.umd.edu
|
|
54
|
University of Texas, Austin (public school)
|
http://www.utexas.edu
|
|
55
|
Syracuse University (private school)
|
http://www.syracuse.edu
|
|
56
|
Worcester Polytechnic Institute
|
http://www.wpi.edu
|
|
57
|
University of Iowa (public school)
|
http://www.uiowa.edu
|
|
58
|
Purdue University (public school)
|
http://www.purdue.edu
|
|
59
|
University of Georgia (public school)
|
http://www.uga.edu
|
|
60
|
Ohio State University, Columbus (public school)
|
http://www.acs.ohio-state.edu
|
|
61
|
Rutgers University, New Brunswick (public school)
|
http://www.rutgers.edu
|
|
62
|
University of Miami (public school)
|
http://www.miami.edu
|
|
63
|
University of Minnesota, Minneopolis (public school)
|
http://www.umn.edu
|
|
64
|
Boston University (private school)
|
http://web.bu.edu
|
|
65
|
Miami University, Oxfox (private school)
|
http://www.muohio.edu
|
|
66
|
University of Connecticut (public school)
|
http://www.uconn.edu
|
|
67
|
Brigham Young University, Provo (private school)
|
http://www.byu.edu
|
|
68
|
Indiana University, Indianapolis (public school)
|
http://www.iupui.edu
|
|
69
|
Texas A&M University, College Station
|
http://www.tamu.edu
|
|
70
|
University of California, Santa Cruz (public school)
|
http://www.ucsc.edu/public
|
|
71
|
University of Delaware (public school)
|
http://www.udel.edu
|
|
72
|
University of Pittsburgh (public school)
|
http://www.pitt.edu
|
|
73
|
Clark University (private school)
|
http://www.clarku.edu
|
|
74
|
Michigan State University, East Landing (public school)
|
http://www.msu.edu
|
|
75
|
Southern Methodist University (private school)
|
http://www.smu.edu
|
|
76
|
University of Missouri, Columbia (public school)
|
http://www.missouri.edu
|
|
77
|
Virginia Tech (private school)
|
http://www.vt.edu
|
|
78
|
University of Massachusetts, Amherst (public school)
|
http://www.umass.edu
|
|
79
|
State University of New York, Binghamton (public school)
|
http://www.binghamton.edu
|
|
80
|
State University of New York, Stony Brook (public school)
|
http://www.sunysb.edu
|
|
81
|
University of California, Riverside (public school)
|
http://www.ucr.edu
|
|
82
|
University of Colorado, Boulder (public school)
|
http://www.colorado.edu
|
|
83
|
University of Utah (public school)
|
http://www.utah.edu
|
|
84
|
City University of New York, Graduate Center (public school)
|
http://www.gc.cuny.edu
|
|
85
|
Polytechnic University of New York (private school)
|
http://www.poly.edu
|
|
86
|
State University of New York, Buffalo (public school)
|
http://www.buffalo.edu
|
|
87
|
University of Rhode Island (public school)
|
http://www.uri.edu
|
|
88
|
University of Texas, Dallas (public school)
|
http://www.utdallas.edu
|
|
89
|
Texas A&M University (public school)
|
http://www.tamu.edu
|
|
90
|
University of Texas-Houston Health Science Center (public school)
|
http://www.uth.tmc.edu
|
|
100
|
Iowa State University (public school)
|
http://www.iastate.edu
|
|
101
|
George Mason University (public school)
|
http://www.gmu.edu
|
|
102
|
Illinois Institute of Technology (public school)
|
http://www.iit.edu
|
|
103
|
University of Texas, Arlington (public school)
|
http://www.uta.edu
|
|
104
|
North Carolina State University (public school)
|
http://www.ncsu.edu
|
|
105
|
University of California, San Francisco (public school)
|
http://www.ucsf.edu
|
|
106
|
University of Kansas (public school)
|
http://www.ukans.edu
|
|
107
|
University of Kentucky (public school)
|
http://www.uky.edu
|
|
108
|
University of Maine (public school)
|
http://www.umaine.edu
|
|
109
|
University of New Mexico (public school)
|
http://www.unm.edu
|
|
110
|
University of Colorado, Colorado Spring (public school)
|
http://www.uccs.edu
|
|
111
|
University of Vermont (public school)
|
http://www.uvm.edu
|
|
112
|
University of Tennessee, Knoxville (public school)
|
http://www.utk.edu
|
|
113
|
University of New Hampshire, Durham (public school)
|
http://unhinfo.unh.edu
|
|
114
|
University of Alabama (public school)
|
http://www.ua.edu
|
|
115
|
University of Arizona (public school)
|
http://www.arizona.edu
|
|
116
|
Washington State University (public school)
|
http://www.wsu.edu
|
|
117
|
University of San Diego (private school)
|
http://www.sandiego.edu
|
|
118
|
Ohio University (private school)
|
http://www.ohiou.edu
|
|
119
|
Michigan Technological University
|
http://www.mtu.edu
|
Trường loại C:
|
120
|
University of Oklahoma (public school)
|
http://www.ou.edu
|
|
121
|
Florida State University, Gainsville (public school)
|
http://www.fsu.edu
|
|
122
|
New Jersey Institute of Technology (public school)
|
http://www.njit.edu
|
|
123
|
Oklahoma State University (public school)
|
http://osu.okstate.edu
|
|
124
|
California State University, Bakersfield (public school)
|
http://www.csubak.edu
|
|
125
|
California State University, Chico (public school)
|
http://www.csuchico.edu
|
|
126
|
California State University, Dominguez Hills (public school)
|
http://www.csudh.edu
|
|
127
|
California State University, Fresno (public school)
|
http://www.csufresno.edu
|
|
128
|
California State University, Fullerton (public school
|
http://www.fullerton.edu
|
|
129
|
California State University, Long Beach (public school)
|
http://www.csulb.edu
|
|
130
|
California State University, Los Angeles (public school
|
http://www.calstatela.edu
|
|
131
|
California State University, Northridge (public school)
|
http://www.csun.edu
|
|
132
|
California State University, Sacramento (public school)
|
http://www.csus.edu
|
|
64
|
Boston University (private school)
|
http://web.bu.edu
|
|
65
|
Miami University, Oxfox (private school)
|
http://www.muohio.edu
|
|
66
|
University of Connecticut (public school)
|
http://www.uconn.edu
|
|
67
|
Brigham Young University, Provo (private school)
|
http://www.byu.edu
|
|
68
|
Indiana University, Indianapolis (public school)
|
http://www.iupui.edu
|
|
69
|
Texas A&M University, College Station
|
http://www.tamu.edu
|
|
70
|
University of California, Santa Cruz (public school)
|
http://www.ucsc.edu/public
|
|
71
|
University of Delaware (public school)
|
http://www.udel.edu
|
|
72
|
University of Pittsburgh (public school)
|
http://www.pitt.edu
|
|
73
|
Clark University (private school)
|
http://www.clarku.edu
|
|
74
|
Michigan State University, East Landing (public school)
|
http://www.msu.edu
|
|
75
|
Southern Methodist University (private school)
|
http://www.smu.edu
|
|
76
|
University of Missouri, Columbia (public school)
|
http://www.missouri.edu
|
| Ưu thế: Là Cường quốc phát triển nhất nhì thế giới, nền giáo dục có tính thực tiễn cao. |
|
Học bổng Đại học, cao học từ 20%- 80% tại các trường đại học McNeese, Western Kentucky, Southern Indiana, West Texas A&M, Marshall. Lưu ý: Bằng tú tài, cao đẳng và đại học ở Việt Nam (cả chính quy và tại chức) đều được các trường đại học ở Mỹ công nhận. Vì vậy, sinh viên Việt Nam sẽ không phải học thêm các lớp chuẩn hoá hay 1 năm dự bị trước khi vào đại học như ở một số nước khác. Ngoài ra sinh viên Việt Nam cũng có thể “chuyển” kết quả một số môn đã học tại các trường CĐ/ ĐH ở Việt Nam sang một số trường cao đẳng và đại học ở Mỹ. Dự toán kinh phí (USD) Tuỳ theo trường bạn chọn, học phí có thể sẽ rất cao hoặc ngược lại, từ $4.000 - $28.000/ năm. Thông thường chi phí tuỳ thuộc vào danh tiếng của trường đó, trường càng nổi tiếng thì chi phí càng cao.
|
|
|
1034_1308198237_Mau-I20-la-gi_4150_343_s.jpg
Mẫu I-20 là giấy chứng nhận của trường đại học bạn xin nhập học gởi cho Sở Di trú Chính phủ Mỹ hoặc Tòa Lãnh sự Mỹ, chứng nhận một số sự kiện gồm cả sự kiện rằng bạn được công nhận là sinh viên của trường họ và đã được chấp thuận vào học cho đến cuối chương trình và sẽ theo học với tư cách toàn phần (full time) mỗi khoá học hằng năm. Mẫu I-20 là một đòi hỏi tất yếu và là một phần của hồ sơ xin Visa. Mẫu I-20 phải đi cùng với visa. Nếu bạn chỉ có nó riêng rẽ một mình thì nó cũng chẳng có giá trị gì. Mẫu I-20 phải đi cùng với Mẫu Di trú I-94 khi bạn vào nước Mỹ.
Khi bạn ở ngoài nước Mỹ, mẫu I-20 phải được đem đến Tòa Đại Sứ hay Tòa Lãnh sự Mỹ, cùng với giấy tờ chứng minh khả năng tài chính, và nộp cùng với đơn xin nhập cảnh. Nếu bạn ở trong nước Mỹ, mẫu I-20 sẽ được dùng để thông báo cho Sở Di trú khi bạn thay đổi trường học hay muốn gia hạn chương trình học của bạn, và có thể sẽ cần nó để xin trở lại làm tư cách học sinh hoặc những quyền lợi khác. Do đó bạn vẫn phải cất giử mẫu I-20 cẩn thận.
Bạn phải ký tên vào mẫu I-20 trước khi nộp vào cho Tòa Đại Sứ hoặc Tòa Lãnh sự hay Sở Di trú. Chử ký của bạn là một sự thỏa thuận giữa bạn và trường đại học là sẽ tuân theo luật lệ nhà trường và đồng ý cho nhà trường cung cấp dữ kiện và thông tin liên quan về bạn cho Sở Di trú. Khi mẫu I-20 được chấp thuận, trang đầu của mẫu I-20 sẽ được gữi đi và được lưu giữ bởi Sở Si trú, bạn sẽ giữ trang thứ nhì còn được gọi là Student ID Copy.
Xem thật kỹ ngày tháng điền ở phần a) của mẫu I-20, bạn phải đến nước Mỹ và trình diện trường bạn học trước ngày đó. Nếu không bạn phải xin giấy nhà trường giải thích về sự trể hạn hoặc bạn phải chờ đến kỳ sau mới được nhập học (nhưng phải xin mẫu I-20 khác).
Điều quan trọng bạn nên lưu ý là bất kỳ khi nào bạn đi ra ngoài nước Mỹ và muốn trở lại Mỹ, bạn phải mang theo mẫu I-20 này và bạn phải xin chử ký mới của Cố vấn cho Sinh viên ngoại quốc (Foreign Students Advisor) ở trường bạn mỗi lần bạn du lịch ra ngoài nước Mỹ. |
|
1033_1308198284_Chia-se-kinh-nghiem-_3954_683_s.jpg
Rời Việt Nam từ năm 20 tuổi, tôi, đứa con trai duy nhất trong một gia đình có truyền thống làm nghề giáo, lại quyết thực hiện đam mê khác hẳn với những thành viên họ hàng trong gia đình mình nơi xứ người.
Tôi cố gắng thuyết phục gia đình cho tôi theo nghề đầu bếp và đã chọn Trường Victoria University Technology, trường đứng thứ năm tại Úc, với chuyên ngành Commercial Cookery là nơi trau dồi kiến thức.
Thời gian đầu sống tại Úc, tôi thật sự cảm thấy rất khó khăn và dường như đó là tâm lý chung của tất cả các du học sinh Việt Nam như tôi: mệt mỏi, chán nản, stress, buồn bã, “sốc” vì văn hóa khác biệt.
Thú thật là nếu không có sự hỗ trợ từ nhà trường và sự nhiệt tình của giáo viên bản xứ, tôi sẽ khó có thể thích nghi cũng như tự lập và chủ động học tập trong thời gian ngắn.
Quan sát xung quanh, tôi nhận thấy, bên cạnh những cá nhân chọn du học để “trang sức” cho mình, ra nước ngoài học chỉ để chiều lòng cha mẹ, thì vẫn có rất nhiều thanh niên Việt Nam trên đất khách đủ mạnh mẽ để thích nghi với cuộc sống hiện tại. Điều này giúp tôi tự tin hơn và cũng có đôi chút tự hào.
Sinh viên Việt Nam ở Úc nổi tiếng chịu khó làm thêm. Tôi cũng học các bạn, hiện đang làm phụ bếp cho một nhà hàng lớn. Công việc này vừa đúng chuyên môn, vừa giúp tôi có tiền trang trải cuộc sống.
Thế nhưng, để có được công việc ổn định và tốt như thế, tôi đã phải không ít lần lang thang qua hàng chục cửa hàng thức ăn nhanh, các nhà hàng nhỏ để tìm và xin việc. Người bản xứ đòi hỏi khả năng làm việc rất cao, chỉ cần hơi tỏ ra “lè phè” là có thể bị cho thôi việc.
Thêm vào đó là năng suất làm việc của những người ở đây vượt ngoài khả năng của một thanh niên mới trưởng thành người Việt. Vấn đề sức khỏe, áp lực công việc và đặc biệt là vốn tiếng Anh hạn chế đã khiến tôi bị sa thải không dưới 10 lần. Động lực giúp tôi trụ lại là ý nghĩ về ngày trở về vinh quang mà tôi đã mạnh miệng khẳng định với cả nhà trước khi ra đi.
Cũng nhờ thế mà tôi đã học hỏi, tích lũy cũng như áp dụng được khá nhiều kinh nghiệm từ những nơi tôi làm thêm vào việc học của mình. Tay nghề của tôi cũng được nâng cao dần và đó chính là nhờ tôi đã kinh qua công việc thực tế.
Chỉ còn một học kỳ nữa là tôi hoàn thành chương trình cao đẳng của mình. Tôi đang thật sự phân vân giữa việc về nước hay ở lại Úc để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp, bởi còn quá nhiều thứ cần phải học...
Tôi tin, chỉ khi có tri thức thật sự cộng với kinh nghiệm thực tế thì những du học sinh mới “vinh quy” vẻ vang và có thể xây dựng sự nghiệp vững chắc trên đất nhà, chứ không phải chỉ dựa vào cái “mác” du học sinh, bởi “cái áo không làm nên thầy tu”. |
1032_1308198375_Kinh-nghiem-song-cua_4392_395_s.jpg
Muốn viết bài này thay lời cám ơn tới Hiền - là người đã giúp đỡ + trả lời câu hỏi của mình rất nhiệt tình về chuyện thay đổi ngày phỏng vấn, động viên + chia sẻ kinh nghiệm cho mình rất nhiều.
Mình cũng muốn cảm ơn Kim, thứ 6 này bạn ấy sẽ bay để tham gia Work & Travel, và đang bận rộn với thi cử, nhưng vẫn dành cho mình cả mấy tiếng chia sẻ về phỏng vấn visa, và chỉ dẫn mình trong việc "hẹn phỏng vấn visa sớm". Mặc dù mọi thông tin về phỏng vấn visa (trang tiếng Anh, trang tiếng Việt)đều đã có đăng trên website của Đại Sứ Quán, nhưng nhiều bạn tham gia Work & Travel thì được các trung tâm lo “trọn bộ” nên không biết rằng mình có thể đổi ngày, xin phỏng vấn sớm … nên mình viết bài này để chia sẻ lại việc mình đã chuẩn bị phỏng vấn visa ra làm sao. Hy vọng Google sẽ mang thông tin tới cho những bạn cần nó. Chú ý: những thông tin trong này chỉ là chia sẻ kinh nghiệm, và các bạn chỉ đọc để tham khảo thôi nhé.
1. Nộp hồ sơ online
Từ giờ, khi nộp hồ sơ xin visa tại Lãnh sự quán Mỹ tại Hà Nội hay Tp HCM thì bạn cũng chỉ cần điền 1 mẫu đơn DS-160 (điền tại đây) duy nhất thôi. Và cũng không cần in phải in toàn bộ đơn, mà chỉ cần in tờ giấy confirm cuối cùng có barcode thôi, và phải giữ kỹ tờ này. Nhớ scan hình thẻ vào máy trước – vì người ta sẽ yêu cầu mình up hình online, và website sẽ check hình đó luôn, nếu không thỏa yêu cầu của họ thì phải đi chụp lại. Liệt kê các thông tin cần thiết ra giấy, vì bạn chỉ 20’ để hoàn thành DS-160 form.
2. Chọn ngày phỏng vấn
Sau khi hoàn thành xong DS-160, thì mình sẽ có cái barcode (gồm 10 ký tự và chữ số), barcode này được dùng để book lịch hẹn phỏng vấn. Sau khi hoàn thành đơn, nó sẽ đưa bạn đến trang để book lịch hẹn phỏng vấn. Chọn ngày phỏng vấn nào còn trống mà, rồi nhớ in cái lịch hẹn ra nha.  Nếu bạn dự định sẽ bay ngày 31/5, mà lịch phỏng vấn chỉ còn trống ngày 4/6 thôi, cứ book ngày đó, và đọc “Trường hợp 2: xin phỏng vấn sớm” Nếu bạn chỉ muốn đổi ngày phỏng vấn, thì cứ đọc tiếp.
3. Trường hợp 1: chọn lại ngày phỏng vấn sớm hơn, muộn hơn gì đấy
Chú ý:nếu bạn có 2 ngày hẹn cho cùng 1 barcode, thì lịch hẹn sẽ bị hủy khi bạn vào phòng lấy số để phỏng vấn visa. Tuy nhiên, 2 lịch hẹn khi bạn chưa phỏng vấn thì vẫn không sao cả, nhưng nhớ phải cancel cái còn lại. Thường thì đông người phỏng vấn visa, nên có thể bạn chỉ book được phỏng vấn ngày 18 trong khi 27 là bạn định lên máy bay. Vậy nên bạn muốn chọn ngày khác sớm hơn. Bằng cách vào trang NIV Appointment System, chọn quốc gia và chọn lãnh sứ quán bạn muốn phỏng vấn, bạn sẽ đến được trang này:  Chọn Schedule Appoinment, nhập barcode của bạn vào thì bạn sẽ biết ngày nào còn trống. Tips: thường thì lịch phỏng vấn sẽ có vài chỗ trống nếu bạn check vào lúc 5h – 5h30 chiều (theo kinh nghiệm cá nhân) hoặc bạn có thể cứ 15’ vào trang này 1 lần để check.  Nếu có lịch trống rồi, thì bạn cứ book ngày sớm hơn nếu bạn muốn, và nhớ in lại cái lịch hẹn mới. Và sau đó, nhớ phải cancel cái lịch hẹn cũ đi bằng cách vào Change/Cancel Appoinment, nhập “Confirmation ID”, “Surname” + “Given Name”, rồi click Cancel thôi. Và sau đó nhớ in cái trang đó ra để làm bằng chứng.  Vì trường hợp của Quỳnh, là Quỳnh đã cancel lúc 5h30 chiều ngày 12/5, thế mà đến sáng 13/5 thì cái confirmation đó vẫn chưa được hủy trong hệ thống. Nhưng khi Quỳnh có bằng chứng rằng Q đã cancel (bằng cách in ra), thì Quỳnh vẫn được vào phỏng vấn. Tuy nhiên, cái chị mà Q lấy số, chị ấy rất tử tế. Chị ấy check lại thông tin, và thấy Q có 2 lịch hẹn phỏng vấn, nhưng khi Q đưa tờ giấy Q đã cancel appointment, chị ấy vẫn cho Q vào phỏng vấn. Q đề nghị là không nên cancel hôm nay, và book lịch phỏng vấn mới vào ngay ngày hôm sau, vì biết đâu hôm đó họ khó tính gì gì đấy, họ không thấy tên bạn trong danh sách hẹn phỏng vấn là họ kêu bạn đi về liền thì sao? Bạn cứ tính rằng hệ thống cần 24 tiếng để xóa lịch hẹn cũ của bạn đi.
4. Trường hợp 2: xin phỏng vấn sớm
Download đơn xin phỏng vấn sớm tại trang này (Ctrl + F, gõ “expedited visa interview”). Sau đó in ra, điền đơn, và fax theo như hướng dẫn trên trang đó luôn, tức là tới số (08) 3520 4232. Bạn phải fax 2 văn bản: (i) đơn xin phỏng vấn sớm và (ii) cái lịch hẹn phỏng vấn của bạn. Nếu đơn của bạn được chấp nhận, họ sẽ gửi fax lại cho bạn trong vòng 1 hoặc 2 ngày. Bạn có thể ra bưu điện để fax giấy tờ, và bưu điện cũng có thể nhận fax cho bạn. Khi đã có tờ giấy hẹn phỏng vấn sớm rồi, thì bạn có thể đến vào bất kỳ ngày nào mà ĐSQ có phỏng vấn visa để phỏng vấn vào ca 7:30 sáng. Nhớ đem theo (i) lịch hẹn phỏng vấn cũ và (ii) tờ giấy chấp nhận phỏng vấn sớm nhé. Để biết ngày nào ĐSQ phỏng vấn, thì bạn lại lên cái trang NIV Appoinment System, nhập barcode, và cứ ngày nào không phải là màu xám (tức Appointment Date Not Available) là ổn thôi.
5. Giấy tờ cần thiết cho buổi phỏng vấn
Mình sẽ liệt kê ra, để các bạn check lại cho tiện. Đi từ trên xuống là giấy tờ được sắp xếp theo thứ tự, và cùng 1 group với nhau thì các bạn dùng kẹp để gom lại với nhau (xài kẹp mà tháo ra tháo vào được nha, chứ không dùng kim bấm) Giấy tờ xác minh phỏng vấn visa (bắt buộc)
- 1 tấm hình thẻ 5 x 5
- Passport
- Lịch hẹn phỏng vấn (giấy đồng ý phỏng vấn sớm / giấy xác nhận hủy lịch hẹn cũ nếu cần thiết – xem thêm trường hợp 1 & 2 ở trên)
- Tờ giấy có in barcode mà bạn in sau khi hoàn thành DS-156 form
Giấy tờ xác minh chương trình bạn tham gia (bắt buộc)
- DS-2019 / I-20 (tùy chương trình)
- Biên lai đóng phí SEVIS
- Biên lai đóng phí visa
- Job offer letter / Acceptance letter của trường học (tùy chương trình)
Giấy chứng minh bạn đang đi học (không bắt buộc)
- Giấy xác nhận là sinh viên của trường
- Bảng điểm
Giấy xác nhận lý lịch (không bắt buộc)
- Giấy CMND của bạn, Ba & Mẹ
- Hộ khẩu của bạn, Ba & Mẹ
Giấy chứng nhận tài chính: ví dụ như giấy tờ nhà đất, giấy tờ kinh doanh, thư xác nhận tiền gửi của ngân hàng…
6. Kinh nghiệm khi phỏng vấn visa
Những câu hỏi này Quỳnh thu thập nguồn chính là: Du học Đại Dương. Bạn download file này về để xem thêm hen. Những tips đã rất cũ rồi mà Q vẫn thấy nó hữu ích:
- Trung thực
- Biết rõ nơi bạn sắp đến: bạn sẽ làm gì, học gì ở đó, bạn sẽ ở trong bao lâu.
- Luôn nhấn mạnh rằng mình sẽ quay về VN cho dù họ không hỏi
Ví dụ: khi họ hỏi sẽ làm gì ở Mỹ, mình trả lời mình làm trong 14 tuần, du lịch 2 tuần, và sau đó trở về VN học tiếp.
- Chú ý tới bảng gọi số, không nên để họ chờ mình lâu.
- Nếu họ nói không rõ, hãy hỏi lại, đừng sợ rằng họ sẽ cho bạn rớt vì nghĩ Anh Văn bạn kém.
- Nếu có cơ hội, nên chào hỏi họ trước để tạo không khí thân thiện.
- Nếu visa bị từ chối, hãy bình tĩnh, hỏi họ xem họ có đề nghị bạn điều gì cho lần phỏng vấn sau hay không? Bạn thiếu giấy tờ gì, hay bạn cần chứng minh thêm điều gì khác.
Cứ bình tĩnh, rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi.
7. Quỳnh đã phỏng vấn visa như thế nào?
Trời ơi, đây là phần mà Q hào hứng viết nhất nè :D Khi gọi số của Q, thì cái bạn phỏng vấn trước đó vẫn còn đứng đó, nên Q có cơ hội để chủ động bắt đầu cuộc trò chuyện. Bạn ấy vừa đi ra thì Q vào “Good morning, Sir” + “Good morning, chị” liền. (Chị là chị thông dịch viên). Why do you want to go to the US? I participate in Work & Travel program this year. I want to go to learn about American culture and gain work experience in international environment. Besides, I’ve never been abroad, so it’s my chance to open my eyes. What is your plan for this trip? I’ll work for 14 weeks, then I’ll have 2 weeks for travel. Finally, I’ll come back to Vietnam to continue my 4th year in university. I’m currently a 3rd year student What is your university? It’s University of Science. I’m learning in Advanced Program in Computer Science Are you a communist? Có định truyền bá cái gì vào Mỹ không? – tới lúc này là bắt đầu hỏi nhảm rồi, và ông ấy nói ào ào luôn, mình cứ phải “Pardon me?” hoài luôn. I don’t want to be related to any political things. I just want to go to the US to learn about new culture and meet new people. Do you love reading Ho Chi Minh ideology or poems? I love reading poems, but I must say that I don’t like studying ideology. Và đến lúc cuối cùng thì ông ấy cười, xua tay và nói “Your English is good, I’m just teasing you, you don’t have to answer. Have a good trip” Mình hớn hở cầm tờ giấy ghi thông tin chuyển phát nhanh đi ra quầy đóng tiền, thì bị gọi giật lại, lo lắng không biết chả lẽ ông ấy thay đổi quyết định. Nhưng mà là tại vì ông ấy quên lấy dấu vân tay của mình thôi. Hura, nay mai gì đó mình passport + visa sẽ được chuyển tới nhà cho mình. Là lá la la là lá la, là lá la la là lá la.
8. Chúc bạn may mắn
o0o Có ai đọc hết tới đây không? Mình viết mà mình còn thấy mệt nữa là :(
|
|
1031_1308198396_-Lam-chu-cuoc-phong-_3952_517_s.jpg
Mỹ là một trong những nước đứng đầu về thu hút du học, trong đó có du học sinh Việt Nam. Thế nhưng trở ngại lớn nhất của sinh viên Việt Nam khi du học Mỹ là thủ tục phỏng vấn visa. Tâm lý khi đi phỏng vấn xin visa giống như cảm giác “được ăn cả, ngã về không” nên phần lớn các bạn trẻ thường lo sợ, bối rối vì thiếu hiểu biết cốt lõi về mục đích của một cuộc phỏng vấn. Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi xin chia sẻ một vài điểm cơ bản dễ gây nhầm lẫn đối với sinh viên muốn đi du học.
Làm chủ cuộc phỏng vấn
Phỏng vấn xin visa thường chỉ mất từ 2-3 phút, tối đa là 5 phút. Rõ ràng đây là một khoảng thời gian rất ngắn để nhân viên lãnh sự tìm hiểu về bạn, nên trách nhiệm của người được phỏng vấn là phải tận dụng khoảng thời gian ngắn ngủi đó một cách hiệu quả. Nhưng trong nhiều trường hợp, nhân viên lãnh sự lại là bên phải nói nhiều, trong khi người được phỏng vấn lại nói rất ít - đó là một dấu hiệu không tốt.
Một giáo viên dạy ngoại ngữ giỏi là người hiểu được rằng để sinh viên phát triển kỹ năng ngoại ngữ, người giáo viên phải “hạn chế” thời gian nói của mình và “tối đa” thời gian cho sinh viên tập nói càng nhiều càng tốt. Đó là cách để người học thực sự học cách sử dụng ngôn ngữ, trong khi người dạy chỉ giới thiệu ý tưởng, hướng dẫn thảo luận và đưa ra chỉnh sửa khi cần thiết.
Nguyên tắc đó cần được áp dụng trong cuộc phỏng vấn visa: sinh viên đi phỏng vấn cần học cách hạn chế thời gian nói của nhân viên lãnh sự và tối đa thời gian nói của mình. Cuộc phỏng vấn là cơ hội để sinh viên cung cấp thông tin cho nhân viên lãnh sự Mỹ, bao gồm thông tin về bản thân, kế hoạch học tập, dự định, tính cách... chứ không phải là một cuộc trả lời “khẩu cung” hỏi gì đáp nấy.
Ví dụ khi được hỏi một câu rất phổ biến là: “Bạn định đi du học ở đâu trên nước Mỹ?”, một câu trả lời ngắn như: “Trường đại học A ở thành phố X” không nói lên được gì nhiều về bản thân người sinh viên này và khiến nhân viên lãnh sự phải hỏi tiếp nhiều câu nữa để “lôi” thêm thông tin...
Như vậy, vô hình trung thời gian nói của người cần biết thông tin thì nhiều, của người cần cung cấp thông tin thì ít. Trong mọi trường hợp, người được phỏng vấn luôn được khuyên nên trả lời súc tích, đưa ra thêm nhiều thông tin có giá trị tương ứng với việc trả lời cho 4-5 câu hỏi.
Ví dụ với câu hỏi như trên, một câu trả lời đầy đủ thông tin lý tưởng sẽ là: “Tôi sẽ học tại trường đại học A, ở thành phố X. Tôi dự định học chương trình Kỹ sư bốn năm, đó là chương trình có tiếng của trường. Tôi chọn ngành Kỹ sư vì cha tôi có một công ty xây dựng và tôi muốn học để sau này về quản lý công ty cho cha tôi”.
Một câu trả lời như vậy sẽ giảm thiểu việc nhân viên lãnh sự phải hỏi thêm, bởi vì bạn đã cung cấp rất chi tiết về kế hoạch học tập, phần nào đó là mục đích của việc đi học và định hướng tương lai. Nghe có vẻ đơn giản vậy nhưng nhiều sinh viên lại không xem trọng chi tiết này.
Nói điều người ta muốn nghe, thay vì nói điều mình biết
Đa phần sinh viên trước khi đi phỏng vấn thường xem cuộc phỏng vấn giống như một bài thi, mà trong đó người thành công là người đưa ra những câu trả lời nhằm gây ấn tượng tốt với nhân viên lãnh sự để thuyết phục với họ rằng mình là ứng viên xuất sắc xứng đáng được cấp visa đi học.
Thế nhưng sự thật là người của lãnh sự không hề muốn nghe những câu trả lời từ những chuyện trên trời, những chuyện trong phim ảnh nước Mỹ, kinh tế Mỹ, nhạc pop Mỹ... mà truyền thông thêu dệt mỗi ngày.
Một câu hỏi thực tế thường gặp khác là: “Tại sao bạn muốn đi học ở Mỹ?”. Dĩ nhiên, ai đi phỏng vấn cũng chuẩn bị sẵn cho mình câu trả lời. Vì nghĩ rằng mình sẽ tạo ấn tượng với nhân viên lãnh sự thông qua vốn tiếng Anh lưu loát cùng sự hiểu biết thông thái của bạn, nên bạn trả lời thế này: “Tôi muốn học ở Mỹ vì Mỹ là một nước phát triển với kinh tế hùng mạnh và nền giáo dục của Mỹ là một trong những nền giáo dục tốt nhất thế giới!”.
Với câu trả lời “hoành tráng” như vậy, nhân viên lãnh sự chẳng có thêm được chút hiểu biết nào về bạn, ngoài việc có thể bạn đã tra Wikipedia để nói cho họ nghe những điều họ đã quá biết về nước họ. Điều đơn giản mà nhiều bạn trẻ lại không hiểu đó là cuộc phỏng vấn là cơ hội để bạn giới thiệu cho nhân viên của lãnh sự quán biết về cá nhân bạn, chứ không phải là một cuộc trả bài về những gì bạn biết về nước Mỹ.
Dù mục đích của bạn là gì đi nữa - cha mẹ muốn bạn đi học, có bạn bè đang học ở Mỹ, có bà con họ hàng ở Mỹ sẵn sàng cho ở trọ trong khi đi học, thậm chí vì bạn thích phim Mỹ và muốn đến Mỹ xem có phải giống như trong phim không, hay vì bạn nghĩ nước Mỹ hợp với một cá tính như bạn... - người ta cần nghe những điều chân thật về bạn, về những gì bạn suy nghĩ.
Phần lớn những trường hợp phỏng vấn hỏng thường phạm vào lỗi nhầm lẫn giữa điều mình cho là “có giá trị” và điều thực sự giá trị với người chất vấn, nên bị mất cơ hội du học một cách đáng tiếc. Hy vọng một vài thông tin trên có thể làm sáng tỏ phần nào những “bí quyết” rất đơn giản để các bạn trẻ làm hành trang khi đi phỏng vấn.
Kiểm định chất lượng các trường đại học Hoa Kỳ
Trước khi nộp đơn vào một trường đại học tại Hoa Kỳ, sinh viên cần phải khảo sát và điều tra kỹ lưỡng trường đại học và chương trình học tập mà bạn muốn theo học.
Bước đầu tiên và quan trọng nhất để quyết định chất lượng và tính hợp pháp của một trường đại học là kiểm tra xem trường học đó có được kiểm định và công nhận chất lượng hay không. Khá dễ dàng để làm được điều này.
Đơn giản bạn chỉ cần tham khảo trên trang web của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE), http://www.ope.ed.gov/accreditation/Search.aspx) và trang web của Hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục đại học (CHEA), http://www.chea.org/search/search.asp. Hai website này giải thích rõ ràng kiểm định chất lượng trường học là gì và cho phép sinh viên kiểm tra tình trạng của trường mà bạn muốn theo học.
Để biết thêm thông tin về kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Hoa Kỳ, xin tham khảo các tài liệu theo đường link sau đây:
• Các bước đánh giá tình trạng kiểm định của trường.
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/accredi tation_evaluation.html
• Những câu hỏi quan trọng về “Xưởng Văn bằng” và “Xưởng Kiểm định”
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/mills.html
• Những câu hỏi thường gặp về kiểm định chất lượng.
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/accredi tation_faq.html. |
1030_1308198428_Kinh-nghiem-hoc-tai-_3953_368_s.jpg
Sau khi hoàn thành kỳ học hai năm tại Trường Cao đẳng cộng đồng West Valley College, hiện tôi đang tiếp tục theo đuổi chuyên ngành marketing và thương mại quốc tế tại Đại học San Jose State bang California. Có thể nói, ba năm sống ở Mỹ, là ba năm tôi trưởng thành hơn rất nhiều.
Không một người thân quen nơi xứ người, ngày tôi đặt chân đến Mỹ, một đại diện trường ra đón và dẫn tôi về sống tại khu nội trú trong trường. Tôi bỡ ngỡ và chưa hình dung ra được cuộc sống tiếp theo sau đó sẽ như thế nào...
Tác giả với công việc bán thời gian trong một nhà hàng tại Mỹ
Mùa học đầu tiên trôi qua khá nhẹ nhàng dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của các du học sinh khóa trước và giáo viên bản xứ. Rất mừng là tôi thích nghi khá dễ vì vốn dĩ tôi đã được dạy phải tự lập từ bé.
Điều đó đã giúp tôi hòa nhịp với việc học nơi đây vì sinh viên hầu như phải tự chú thích lại từ lời giảng của giáo viên, đồng thời giáo viên cũng luôn đòi hỏi ý thức tự giác và chủ động từ sinh viên, chứ không hề có việc được giáo viên đọc chép hay cung cấp tài liệu về photo.
Điều mà tôi thích nhất trong cách giáo dục ở đây chính là sinh viên ở đây có cơ hội trao đổi trực tiếp với giáo viên cố vấn để lựa chọn ngành nghề và lớp học phù hợp với mỗi cá nhân, giúp chúng tôi định hướng được tương lai.
Một giáo viên bản xứ mách nhỏ với tôi rằng, du học chỉ là công cụ hỗ trợ tốt cho hành trang khi trở về. Thế nên tôi muốn va chạm nhiều hơn nữa với cuộc sống bên ngoài. Ý nghĩ đi làm nảy sinh trong tôi từ đó. Một trong số hơn 30 cửa hàng tôi tìm đến cũng nhận tôi làm việc.
Từ đây, tôi bắt đầu một cuộc sống như một sinh viên Mỹ - vừa học vừa làm. Và khoảng thời gian này không trôi qua nhẹ nhàng như trước. Tôi đã rơi những giọt mước mắt đầu tiên ở Mỹ. Ngày đầu làm việc, hai tay mỏi nhừ và đôi chân nhức buốt khi phải đứng hơn tám giờ đồng hồ trong một ngày. Tôi bật khóc vì mệt mỏi, vì những lời la mắng... Tôi tập gạt đi sĩ diện của bản thân mà bắt đầu cuộc sống mới.
Cứ thế, sáng học, chiều làm tôi dần quen những công việc chân tay khi thử sức ở nhiều công việc khác nhau như bồi bàn, thu ngân, gia sư... Và tôi nay lớn hơn và chín chắn hơn rất nhiều.
Gần ba năm, tôi từ bỏ được hình ảnh cô bé được nuông chiều ngày xưa, tôi tự lo cho bản thân mình từ ăn, mặc, chỗ ở và phương tiện đi lại... quan trọng nhất là tôi sáng suốt hơn trong những quyết định, cứng rắn hơn trong những thử thách mà mình gặp phải...
Tôi nghĩ, các bậc phụ huynh đưa con đi du học không chỉ là để mở rộng kiến thức mà quan trọng là để con tự mình lớn lên, để trưởng thành. Với những dự định của tương lai, tôi hy vọng mình sẽ hoàn thành hành trình mình đang đi và sống đúng với ý nghĩa “du học” mà nó được định nghĩa thật sự.
Ước nguyện trở về với quê hương luôn thôi thúc trong tôi, cho dù tôi đam mê được đi thật nhiều nơi trên thế giới nhưng tôi nhận ra rằng mình vẫn cần một nơi để thuộc về. |
1028_1308198526_Du-hoc-My--Thu-thuat_3496_285_s.jpg
Bạn nộp hồ sơ xin học tại một quốc gia phát triển và điều duy nhất khiến bạn lo lắng là buổi phỏng vấn trực tiếp với người đại diện của trường. Những mách nước dưới đây có thể giúp bạn chuẩn bị tốt cho buổi phỏng vấn. Và luôn luôn nhớ rằng "Đây là một cuộc trò chuyện".
Buổi phỏng vấn Visa thành công phải cần sự chuẩn bị tốt.
Bạn nên giữ tâm trạng mái và coi buổi phỏng vấn như một cuộc đối thoại hơn là một buổi kiểm tra. Những người phỏng vấn có mặt tại đó để tìm hiểu về bạn vậy thì hãy coi đó như một cơ hội để bạn trình bày mục tiêu, kế hoạch và những mối quan tâm với các nhà giáo dục có kinh nghiệm.
Chuẩn bị
Để giảm mức độ lo lắng và nâng cao kinh nghiệm của bạn bằng cách tham khảo và tìm hiểu những câu hỏi có thể được hỏi trong buổi phỏng vấn. Dưới đây là một số vấn đề có thể bạn sẽ được hỏi:
Lý lịch của bạn: quá trình học tập, kinh nghiệm nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và sự chăm sóc nuôi dưỡng của cha mẹ.
Thành tích học tập: điểm trung bình qua mỗi cấp học, bạn đứng thứ hạng bao nhiêu, các thành tích tham gia hoạt động ngoại khóa khác mà bạn đã đạt được như các hoạt động thể thao, dự án nghiên cứu khoa học…
Dự định tương lai của bạn: đó là những kế hoạch cho việc học tập và nghề nghiệp.
Khả năng tài chính và các nhu cầu: bạn đã có thu nhập riêng và khả năng tiết kiệm hay thu nhập của gia đình bạn như thế nào? Nhu cầu tài chính của bạn là bao nhiêu khi dự tính cho việc đi du học. Các thông tin về tìa chính là rất quan trọng đặc biệt với những thí sinh đi du học tự túc.
Thông tin cá nhân: có thể bạn sẽ được hỏi các câu hỏi để có thể bộc lộ mình như: “Điều gì là quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn”. Câu trả lời của bạn sẽ góp phần giúp người phỏng vấn có thêm cơ sở để quyết định liệu bạn có phù hợp với trường học mà bạn lựa chọn xin học tập.
Những kiến thức cơ bản cho buổi phỏng vấn
Bạn muốn thoải mái để cùng trao đổi với những người phỏng vấn và có không khí tự nhiên để thể hiện mình nhưng bạn đến đây với tư cách là một người được phỏng vấn bởi vậy vẫn không thể thiếu những quy tắc cơ bản:
Đúng giờ: bạn nên kiểm tra thời gian và địa điểm cho buổi phỏng vấn để dự tính thời gian để không đến quá sớm và cũng không quá muộn.
Trang phục: nên có trang phục phù hợp với vai trò là một người được phỏng vấn để không gây phản cảm với mọi người mà bạn thì vẫn tự tin thoải mái với bộ trang phục của mình. Không nên mặc quần Jean áo phông đến tham gia một buổi phỏng vấn. Cũng đừng quên những chi tiết nhỏ khác nhưng cũng không kém phần quan trọng như đầu tóc, tư thế dáng đi.
Tạo ấn tượng tốt ngay từ đầu: khi bắt đầu vào phỏng vấn bạn nên bắt tay, giới thiệu bản thân, giao tiếp cả bằng ngôn ngữ và ánh mắt.
Trả lời ngắn gọn và trung thực: cố gắng tóm tắt các câu trả lời của bạn một cách nhanh nhất và dễ hiểu. Người phỏng vấn sẽ tiếp tục đưa ra câu hỏi nếu họ muốn biết thêm thông tin.
Chuẩn bị sẵn những câu hỏi: đây là một cách để bạn thể hiện sự quan tâm thực sự tới chương trình giáo dục, cuộc sống… nơi mà bạn dự tính theo học.
Những thông tin có trong hồ sơ xin học: bạn nên kiểm tra lại những thông tin đã trình bày trong hồ sơ xin học để không có những sai lệch khi bạn phải trình bày lại trong buổi phỏng vấn.
Giải quyết tình huống: đây là một cách để người phỏng vấn có thêm cơ sở để đánh giá bạn.
Không nên ngần ngại nói “Tôi không biết” hay đặt ra câu hỏi. Nếu bạn vẫn chưa hiểu câu hỏi nên hỏi lại để trả lời vào đúng vấn đề.
Cám ơn: không quên nói lời cảm ơn trước khi rời buổi phỏng vấn.
(Theo VnMedia)
|
1027_1308198555_Kinh-nghiem-lua-chon_3951_841_s.jpg
Thông tin dưới đây, với đầy đủ thông tin về việc học quản trị kinh doanh ở nước ngoài, sẽ giúp bạn nhận ra ngành kinh doanh có phù hợp với bạn không, và nếu phù hợp, bạn nên đi đâu để có chương trình học tốt nhất. Ngành kinh doanh có phù hợp với bạn không? Hầu hết các chương trình đào tạo kinh doanh bậc đại học luôn gồm các môn then chốt như tài chính, marketing và quản lý nhân sự. Sinh viên ngành kinh doanh phải giỏi toán, do vậy hầu hết các chương trình đại học đều dạy môn phương pháp định lượng và thống kê. Bạn có thích những môn này không? Trong khi đó, bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) có mục đích trang bị cho học viên kiến thức tổng quát về quản trị kinh doanh để thành công trong công tác quản lý ở mọi loại hình tổ chức. Chương trình này tập trung vào kỹ năng giao tiếp cá nhân, các kỹ năng nhận thức và chuyên môn cần thiết cho công tác quản lý. Vì vậy, những người đã có bằng cử nhân muốn phát triển nghề nghiệp hoặc muốn leo lên nấc thang quản lý có thể xem chương trình cao học quản trị kinh doanh là bàn đạp có lợi cho tương lai. Chương trình MBA Tại 5 quốc gia sử dụng tiếng Anh (Anh, Úc, Mỹ, Canada, New Zealand), chương trình MBA về cơ bản đều giống nhau, mặc dù tên gọi các khóa học có thể khác nhau tuỳ từng trường. Sự khách biệt chính yếu là điều kiện tuyển sinh. Nhiều trường yêu cầu học viên phải có ít nhất 2-3 năm kinh nghiệm làm việc, một số trường khác lại không đòi hỏi. Hầu hết các trường ở Anh và Ireland yêu cầu sinh viên có kinh nghiệm làm việc và nhóm 50 trường hàng đầu ở Mỹ cũng yêu cầu tương tự. Tuy nhiên, các trường đại học ở Canada , Úc và New Zealand đều chấp nhận học viên theo học MBA gay sau khi tốt nghiệp đại học. Một số trường đại học ở Úc tổ chức các chương trình MBA quốc tế để các sinh viên mới tốt nghiệp với điểm số xuất sắc có thể theo học để lấy bằng MBA. Điều cần nói thêm là mặc dù hầu hết các chương trình MBA đều tương tự nhau, song vẫn có nhiều lựa chọn cho bạn. Tuỳ theo nhu cầu, bạn có thễ chọn chương trình MBA cao cấp và chuyên nghiệp dành cho các nhà quản lý bận rộn hoặc chương trình MBA tiêu chuẩn quốc tế toàn thời gian hoặc bán thời gian phù hợp với sinh viên nước ngoài. Các chương trình học ở Anh, Ireland, và các nước thuộc Khối Thịnh Vượng Chung có thể thích hợp đồi với những ai muốn quay về nhanh chóng và tiết kiệm chi phí vì chương trình cao học ở đây chỉ kéo dài 1 năm so với chương trình 2 năm ở Canada và Mỹ. Những điều kiện thiết yếu để học MBA Ngoài bằng cử nhân, sinh viên phải qua kỳ thi tuyển bao gồm 1 bài kiểm tra GMAT và 1 bài kiểm tra tiếng Anh. Các trường khác nhau có tiêu chuẩn tuyển sinh khác nhau nên điểm GMAT yêu cầu dao động từ 550-700. TOEFL và IELTS là 1 hình thức kiểm tra tiếng Anh chủ yếu đối với các sinh viên thuộc các nước không sử dụng tiếng Anh. Mặc dù các nước thuộc Khối Thịnh Vượng Chung chuộng IELTS hơn, chứng chỉ TOEFL vẫn được chấp nhận và ngược lại. Để trúng tuyển vào các trường hàng đầu như Harvard, Standford (Mỹ) và London Business School (Anh) bạn phải cố gắng đạt được điểm số cao nhất ở tất cá các bài kiểm tra. Chương trình kinh doanh bậc đại học Hầu như phần lớn các trường đại học chuyên ngành thường tổ chức các chương trình đào tạo dưới tên gọi chung là “kinh doanh”. Khi xem các tài liệu hướng dẫn và giới thiệu về các khoá học, trước tiên bạn nên tra cứu theo từng ngành như: khoa học quản lý kinh doanh, thương mại, quản trị, hoặc kinh doanh rồi mới tìm thấy các khoá học mình cần. hiều khoá học kinh doanh có hướng tập trubg về chuyên ngành như tài chính, marketing, quản lý bán lẻ, quản lý du lịch hoặc thương mại quốc tế. Rất dễ bị nhầm lẫn. Vì vậy, bạn cần thận trọng tìm hiểu tên và nội dung khoá học. Nếu không, có thể khoá học ấy hoàn toàn không như bạn mong đợi. Bạn cũng sễ thấy một số khoá học kinh doanh chỉ là một phần của một chương trình “lai ghép” nối kết kinh doanh và một chuyên ngành khác như luật, quốc tế học, điện toán để tạo ra bằng cấp liên ngành. Những bằng cấp này có thể cung cấp cho bạn kiến thức về các lĩnh vực khác nhau để bạn có thể phát huy bản thân sao cho phù hợp với sở thích và nguyện vọng của bản thân. Ngoài các khoá học về tài chính, marketing, quản lý nhân sự, phương pháp định lượng và thống kê, các trường cũng tổ chức các khoá học hỗ trợ cho công nghệ thông tin như Internet, máy tính vì các nhà tuyển dụng luôn mong muốn nhân viên của họ thông thạo lĩnh vực này. Sau cùng, các chương trình đào tạo về kinh doanh không thể thiếu một khóa học cốt lõi về chính sách hoặc chiến lược kinh doanh. Các khoá học này giúp bạn có cơ hội thực hành quản lý một công việc kinh doanh thực tế và giải quyết các vấn đề cùng những sự việc phát sinh. Bằng cấp về kinh doanh ở Anh và Mỹ thường được đánh giá là ưu việt, nhưng gần đây, Úc ngày cành được nhiều sinh viên quốc tế chọn theo học đại học và sau đại học nhờ cơ sở hạ tầng giáo dục tốt, chất lượng sống cao, và chi phí thấp. Bằng cấp của Úc đang được công nhận rộng rãi và khắp toàn cầu. Các trường như Melbourne Business School được xếp hạng trong số những trường tốt nhất thế giới. Bạn có đủ khả năng không? Các quốc gia khác nhau đòi hỏi những điều kiện khác nhau. Mặc dù các trường tại 5 quốc gia nói trên đều yêu cầu sinh viên nộp bảng điểm và chứng chỉ tiếng Anh được chuẩn hóa, các tiêu chuẩn vẫn khác nhau ở mỗi nước. Ví dụ, ở Mỹ, ngoài yêu cầu chung là các bảng điểm học tậo và chứng chỉ TOEFL, sinh viên cũng phải nộp các chứng chỉ bắt buộc khác như SAT 1 hoặc đôi khi là SAT 2 và ACT. Ngoài ra, sinh viên dự tuyển còn phải có thư giới thiệu và một bài luận cá nhân nêu lý do tại sao muốn học tại trường. Ở Anh, để vào được đại học, bạn phải đạt điểm tối đa là C cho một số môn cụ thể ở cả hai kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở (GCSE) và trung học phổ thông lấy chứng chỉ A (GCE A levels). Khi xét tuyển, hầu hết các trường chỉ chú ý đến các môn bạn thi đậu khi bạn lấy chứng chỉ A levels. Để đạt được điều này, các sinh viên nước ngoài thường bắt đầu sang Anh học từ lớp 6 (2 năm cuối của chương trình trung học, độ tuổi 17-18) để học thi lấy chứng chỉ A levels và chuẩn bị học lên đại học. Tại Canada , do không có kỳ thi tuyển tập trung vào nên mỗi trường đề ra các tiêu chuẩn riêng. Để dự tuyển vào một số trường đại học ở Ontario và Quebec , sinh viên trải qua ít nhất 13 năm ở giai đoạn tiểu học và trung học. Điều này có nghĩa là sinh viên Việt Nam phải học thêm 1 năm nữa tại Canada . Tuy nhiên, nếu bảng điểm của bạn gây ấn tượng tốt, một số trường đại học có thể chấp nhận cho bạn theo học chương trình cử nhân dù bạn chỉ học 12 năm trung học. Úc và New Zealand ít đòi hỏi nhất, chỉ yêu cầu bảng điểm, thư giới thiệu và chứng chỉ IELTS. Tốn học phí bao nhiêu? Vấn đề sau cùng quan trọng không kém là học phí! Phải tốn bao nhiêu tiền để sống và học ở nước ngoài? Hãy xét từng quốc gia. Đại học Mỹ có 2 loại hình chủ yếu là trường công (nhà nước hỗ trợ) và trường tư (độc lập). Học phí dành cho sinh viên quốc tế tại các trường công không bao gồm phí cư ngụ, rẻ hơn rất nhiều so với phí của các trường tư. Học phí trường tư dao động từ US$ 12,000 – 19,000 /năm, trong khi học phí trường công chỉ khoảng US$ 6,000 – 13,000/ năm. Chi phí ăn ở hàng năm cũng khác nhau tuỳ theo mức sống của mỗi cá nhân nhưng trung bình khoảng US$ 10,000 mỗi năm. Học tập ở Anh Quốc, bạn sẽ có nhiều lợi ích về tài chính. Sinh viên theo học chương trình tập trung kéo dài 6 tháng hay lâu hơn sẽ được miễn phí khi tham gia bảo hiểm y tế quốc gia. Chương trình thạc sĩ chỉ kéo dài 1 năm và chương trình cử nhân là 3 năm. Tổng chi phí trung bình mỗi năm cho sinh viên đại học khoảng 12,810 bảng và cao học khoảng 12,900 bảng. Tại Canada , chi phí tuỳ thuộc vào vị trí của trường. Phí học hàng năm của sinh viên đại học khoảng C$ 6,600 ở khu vực Newfoundland đến C$ 13,830 ở British Columbia . Chương trình thạc sĩ ở Newfoundland khoảng C$1,896 mỗi năm, trong khi ở British Columbia dao động từ C$2,100 – 17,000 mỗi năm. Cũng như Anh, Úc tổ chức chương trình thạc sĩ 1 năm và cử nhân 3 năm, ngắn hơn so với chương trình 4 năm ở Mỹ và các nước khác ở châu Âu. Nếu tính bằng USD, tổng học phí cử nhân kinh doanh 3 năm ở Úc là US$ 50,899 trong khi học phí MBA là US$ 17,965/năm. New Zealand cũng tổ chức chương trình học trọn gói 1 năm, 3 năm. Phí trung bình học đại học kinh doanh ở New Zealand khoảng NZ$ 10,000 – 12,000/năm, trong khi chương trình MBA tốn khoảng NZ$ 18,000 – 24,000 / năm. Hãy nhớ rằng các trường đại học và chính phủ các nước luôn có học bổng dành cho sinh viên giỏi. Ngoài ra, còn có chương trình hỗ trợ vốn dành cho sinh viên . Tại các quốc gia như Anh, sinh viên có thể làm thêm 20 giờ / tuần. |
1025_1308198595_Du-hoc-My--Bi-quyet-_3494_653_s.jpg
Xin Visa du học Mỹ luôn khó khăn.
(Dân trí) – Rất nhiều HS, SV dù đã được các trường ĐH, CĐ Mỹ chấp nhận, vẫn không thể sang học vì không xin được visa du học Mỹ. Tại sao Mỹ lại khó khăn trong việc cấp visa cho người nước ngoài như vậy? Làm sao để hóa giải khó khăn này?
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Hồng Hạnh, đại diện phòng lãnh sự của đại sứ quán Mỹ để giúp bạn đọc tìm ra câu trả lời.
Xin bà cho biết, thủ tục để được phỏng vấn visa Mỹ đối với sinh viên Việt Nam?
Trước hết để xin visa sinh viên, thì công việc đầu tiên của các sinh viên là cần điền đầy đủ vào form I-20 (do các trường trung học, CĐ họăc ĐH Mỹ qui định) hoặc form DS-2019 (do các chương trình trao đổi học bổng gửi). Những form này thể hiện họ đã chấp nhận bạn vào học tại một trường ở Mỹ. Sau đó, các sinh viên tiến hành làm hộ chiếu tại địa phương mình đang cư trú, tập hợp lại các giấy tờ liên quan gồm các giấy tờ chứng minh về khả năng tài chính, quá trình học tập.
Với bộ hồ sơ đầy đủ này, nếu SV muốn phỏng vấn ở Hà Nội thì mang hồ sơ đó đến Ngân hàng Citibank (địa chỉ 17 Ngô Quyền, Hà Nội) trình và nộp 100 đô la Mỹ lệ phí xét đơn và lấy lịch hẹn phỏng vấn visa. Đây là lệ phí không hoàn lại, và nó cũng không đảm bảo là visa sẽ được cấp.
Ngoài việc nộp lệ phí phỏng vấn visa, sinh viên nước ngoài có phải đóng một khoản phí nào khác không?
Đối với sinh viên nước ngoài muốn học tại Mỹ thì ngoài lệ phí phỏng vấn visa, họ cần phải đóng thêm một khoản phí nữa gọi là phí SEVIS (Student and Exchange Visitor Information System). Ở đây có thể hiểu là mỗi một sinh viên đi học sẽ được cấp một cái SEVIS có số cụ thể và họ sẽ quản lý những viên này theo hệ thống mạng Internet (nó giống như chứng minh thư nhân dân của Việt Nam).
Cái SEVIS này sẽ theo suốt quá trình sinh viên học tại Mỹ. Và người Mỹ yêu cầu sinh viên phải nộp tiền cho việc quản lý sinh viên nước ngoài theo hệ thống này. Sinh viên có thể thanh toán khoản phí này bằng nhiều cách nhưng cách được coi là hữu dụng nhất là đăng ký trực tuyến qua Internet. Trên địa chỉ, bạn sẽ tìm thấy mẫu Form-901 và thực hiện thanh toán thông qua thẻ tín dụng.
Bà có thể cho biết, trong hồ sơ phỏng vấn visa, viên chức lãnh sự Mỹ (người trực tiếp phỏng vấn sinh viên) thường chú ý những yếu tố gì?
Thứ nhất, sinh viên đó đã được một trường ĐH Mỹ chấp nhận thông qua form I-20 hoặc DS-2019. Thứ hai, thông qua thực lực học tập của sinh viên thể hiện qua trình độ tiếng Anh, thể hiện qua bảng điểm học tập ở Việt Nam, kể cả giấy khen, bằng khen học sinh giỏi… Thứ ba là khả năng tài chính của gia đình. Không chỉ có trường hợp du học tự túc, mà cả các trường hợp du học bằng học bổng toàn phần hay bán phần, người ta cũng đều xem xét đến điều kiện kinh tế của gia đình sinh viên đang xin visa.
Thực tế, tỷ lệ sinh viên sau khi phỏng vấn bị từ chối cấp visa Mỹ là rất lớn. Xin bà cho biết lý do.
Một trong những nội dung đáng chú ý được thể hiện trong bộ luật Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ nói rằng: “Vào thời điểm xin cấp visa, mỗi ngoại kiều (đương đơn xin visa) sẽ được coi như có ý định nhập cư cho đến khi người đó chứng minh cho viên chức lãnh sự tin rằng anh/cô ta có đủ điều kiện để được cấp visa không định cư…”
Điều này có nghĩa là viên chức lãnh sự, theo tinh thần của điều luật, luôn xem đương đơn như đang có ý định định cư tại Hoa Kỳ vĩnh viễn cho đến khi nào đương đơn chứng minh đựơc điều ngược lại. Đương đơn (mà trong trường hợp này là sinh viên đi du học Mỹ) có thể đưa ra bằng chứng dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng khi tổng hợp lại, chúng phải đủ mạnh mẽ để viên chức lãnh sự kết luận rằng, hoàn cảnh chung của đương đơn, bao gồm các mối ràng buộc xã hội, gia đình, kinh tế và sự ràng buộc khác ở xã hội Việt Nam. Đương đơn nên chuẩn bị sẵn sàng để trình bày hoàn cảnh của mình thật rõ ràng và chính xác.
Đối với sinh viên đang xin visa, viên chức lãnh sự thường hay hỏi về kế hoạch tương lai của họ. Viên chức đánh giá cao những người có kế hoạch nghiêm túc và cụ thể về tương lai của mình, trong đó có việc giải quyết đầu ra sau khi học xong tại Mỹ. Họ cũng sẽ thường đặt câu hỏi cho các sinh viên xin cấp visa như: tại sao chọn du học ở Mỹ mà lại không chọn một nước khác? Tại sao anh/chị chọn ngành này mà không phải là một ngành khác? Thế học ngành này sau thì dự kiến sẽ làm gì?…
Nhưng xin lưu ý là để trả lời những câu hỏi này và chứng minh một cách thuyết phục cho viên chức lãnh sự Mỹ tin là sinh viên đó không có ý định ở lại Mỹ thì không phải là dễ. Chính vì thế, đã có rất nhiều sinh viên đã thất bại trong việc xin cấp visa đi du học Mỹ.
Vậy bà có lời khuyên gì đối với các sinh viên đi phỏng vấn visa?
Đó là các bạn hãy chuẩn bị và đọc cẩn thận các tài liệu liên quan trước khi đi phỏng vấn.
Xin cảm ơn bà!
(Theo Dân Trí Online) |
1014_1308198621_Du-hoc-My--Bi-quyet-_3494_653_s.jpg
TTO – Làm thế nào để có thể xin được visa du học tự túc ở một cách dễ dàng vì em thấy các bạn của em khi đi phỏng vấn xin visa du học Mỹ rất khó, và thường bị rớt rất nhiều lần sau đó mới có thể xin được. Em mong các anh chị giúp đỡ.
- Trả lời của ông LâmDũng
Để hoàn tất các thủ tục cần thiết cho một em du học sinh đi du học nước ngoài, mọi công việc được chia ra thành hai công đoạn như sau:
Công đoạn đầu là hoàn tất hồ sơ xin nhập học để du học sinh được cấp I-20 hoặc Thư chấp nhận của trường (Letter of Offer). Ở công đoạn này thì tương đối đơn giản và dễ dàng, các Công ty du học đều làm như nhau và thậm chí du học sinh cũng có thể tự làm ở nhà.
Công đoạn thứ hai là sự chuẩn bị về hồ sơ và chuẩn bị cho bản thân du học sinh để dự phỏng vấn. Ở công đoạn cuối này rất quan trọng vì nó mang tính quyết định cho kết quả của một hồ sơ, tuy nhiên ở mỗi Công ty du học lại có một cách làm riêng và không giống nhau.
Thật lòng mà nói trong công đoạn này không hề có một bí quyết nào. Chẳng qua chỉ là vấn đề chuẩn bị về tâm lí mà thôi, để giúp cho các em thuận lợi hơn khi dự phỏng vấn (không thể nói là dễ dàng được). Ở công đoạn này đa số các Công ty du học đều giao luôn cho các nhân viên phụ trách thay vì phải do một người của Công ty có trình độ am hiểu về tâm lí để truyền đạt những kinh nghiệm, những lời khuyên cho các em du học sinh việc gì nên và việc gì không nên làm tại buổi phỏng vấn.
Ví như phía trước mặt em là một cầu tre lắt lẻo, khi đi trên đó nếu trong lòng em lúc nào cũng sợ té ngã thì không sớm hay muộn em cũng sẽ té và rơi xuống nước. Nhưng nếu em được hướng dẫn cách qua cầu và trong lòng em tin rằng với sự hướng dẫn đó em sẽ qua được, tất nhiên em sẽ qua được mà thôi. Trong thư em nói đúng, đã có nhiều bạn của em bị rớt phỏng vấn nhiều lần sau đó mới xin được Visa bởi vì sau nhiều lần té ngã, các bạn đó đã tự học được cách đi qua cầu thay vì được hướng dẫn và chuẩn bị cẩn thận từ lúc ban đầu.
Khi đi dự phỏng vấn, ngoài yêu cầu về học lực của bản thân em tại Việt Nam, trình độ Anh văn cần thiết khi giao tiếp. Em còn cần được hướng dẫn thêm về những kinh nghiệm, về cách ứng xử khi tiếp xúc với Viên chức Tổng LSQ nữa. Quan trọng nhất là em phải tìm hiểu thật kỹ về ngôi trường mà mình sắp đến học, ngành nghề mà mình sẽ học ở Mỹ. Nếu thực sự em có nhu cầu đi học ở Mỹ và quyết tâm học thật sự thì em thuyết phục được viên chức lãnh sự đồng ý cấp visa cho em. |
1013_1308198648_Mot-so-goi-y-ve-phon_3470_332_s.jpg
Tại một cuộc gặp với các chuyên gia lãnh sự của phòng lãnh sự Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội về vấn đề visa cho sinh viên diễn ra mới đây, ông Eric Alexander - trưởng phòng lãnh sự, ông Donald Mattingley và bà Monica Boduszynski - lãnh sự - đã có buổi trao đổi về những gợi ý cho học sinh VN chuẩn bị phỏng vấn để xin visa vào Mỹ.
Mục đích cuộc phỏng vấn ngắn tại đại sứ quán là để xem mục tiêu học tập của học sinh có hợp lý không, học sinh có trở về VN sau khi học tập và khả năng tài chính của gia đình có đủ trả cho việc ăn học trong suốt quá trình học không…
Do có kinh nghiệm vì đã phỏng vấn rất nhiều học sinh, các viên chức lãnh sự có thể quyết định nhanh chóng việc một người đủ tiêu chuẩn hoặc không đủ tiêu chuẩn để cấp visa sinh viên. Trong hầu hết trường hợp, họ đều nói cho học sinh lý do từ chối. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp khi nghe tin này, các học sinh VN trở nên bối rối và không thể hiểu lý do tại sao bị từ chối, hoặc không nghe được giải thích của viên chức lãnh sự. Theo ông Donald, học sinh không nên tranh luận với viên chức lãnh sự, nhưng họ có thể hỏi viên chức lãnh sự có gợi ý gì về việc họ có thể đủ điều kiện như thế nào để được cấp visa trong tương lai.
Khi biết rằng đã có học sinh VN đăng ký phỏng vấn đến 10 lần, tốn kém rất nhiều, ông Eric cho rằng thông thường học sinh không nên xin phỏng vấn quá hai lần một năm, không nên bay từ TP.HCM ra Hà Nội hoặc ngược lại để “thử vận may”, vì tên của học sinh ấy đã có trong mạng hệ thống máy tính liên thông giữa hai văn phòng tại TP.HCM và Hà Nội. Điều này chỉ gây sự lãng phí tiền bạc và thời gian của phòng lãnh sự và gia đình học sinh.
Một câu hỏi học sinh rất khó trả lời là khả năng quay lại VN làm việc sau khi học xong chương trình. Các viên chức lãnh sự sẽ đưa ra quyết định dựa vào cuộc phỏng vấn. Theo ông Donald, học sinh nên tránh học thuộc lòng các câu trả lời theo mẫu do các công ty tư vấn du học cung cấp.
Thay vào đó, học sinh nên trả lời trực tiếp và trung thực mỗi câu hỏi, và hỏi lại nếu họ chưa nghe rõ hoặc chưa hiểu câu hỏi. Ông Eric gợi ý các công ty tư vấn du học nên khuyên học sinh trả lời theo suy nghĩ riêng của mình, không học thuộc lòng các câu trả lời đã chuẩn bị sẵn bởi những người phỏng vấn sẽ nhận ra ngay lập tức khi học sinh bắt đầu trả lời theo mẫu. Trong trường hợp đó khả năng bị từ chối là rất cao.
Bà Monica cho rằng đối với học sinh đi học phổ thông, các phụ huynh nên đi cùng học sinh đến các cuộc phỏng vấn vì họ có thể giúp học sinh trả lời các câu hỏi của viên chức lãnh sự, đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến tài chính. Hơn nữa, với sự có mặt của cha mẹ, các học sinh nhỏ tuổi sẽ cảm thấy yên tâm hơn.
ĐÀO LIÊN HƯƠNG - báo Tuổi Trẻ (Việt Nam) |
1012_1308198685_KINH-NGHIeM-PHoNG-Va_3493_861_s.jpg
Kinh nghiệm phỏng vấn du học Mỹ – Để được đi du học Mỹ, ngoài việc được nhà trường mà các bạn chọn học chấp nhận và cấp thư mời học (hay còn gọi là I-20) thì các bạn phải vượt qua buổi phỏng vấn với các viên chức Lãnh sự quán Mỹ để có visa. Vậy các bạn cần chuẩn bị gì cho buổi phỏng vấn này?
Trước hết để xin visa sinh viên, các bạn phải chuẩn bị những thủ tục như điền đơn (theo qui định như I-20, DS-160, …), đăng ký hẹn phỏng vấn, mua phiếu phỏng vấn, đóng phí SEVIS,..
Sau đó các bạn chuẩn bị những giấy tờ liên quan như hồ sơ chứng minh tài chính và hồ sơ học tập của mình để đi phỏng vấn.
Các bạn lưu ý, thời gian phỏng vấn chỉ kéo dài trong khỏang từ 3 đến 4 phút vì thế các bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để nói một cách ngắn gọn, rõ ràng nhưng chính xác và đầy tính thuyết phục. Các bạn hãy tự tin, đừng che giấu sự thật nên trả lời trung thực theo hồ sơ của mình, trong khoảng thời gian phỏng vấn ngắn ấy các bạn cần cung cấp cho viên chức càng nhiều thông tin càng tốt, và đặc biệt không nên trả lời theo cách học thuộc lòng như những lập trình có sẵn mà phải trả lời thật tự nhiên.
Các viên chức của Lãnh sự quán Mỹ có rất nhiều kinh nghiệm trong công việc của họ, do đó sẽ không quá khó để họ nhận ra được là các bạn đang nói thật hay không về việc bạn xin visa đi học.
Muốn có được kết quả tốt khi phỏng vấn, các bạn phải thỏa 3 điều kiện cơ bản khi xin visa du học:
1. Bạn thực sự có ý định đi học một cách nghiêm túc không? Hoặc bạn có khả năng học tốt tại Mỹ không? : Các viên chức Lãnh sự quán sẽ xem xét quá trình học tập của bạn trước đó cũng như kế họach học tập của bạn tại Mỹ. Do đó, các bạn cần mang theo những kết quả học tập mà các bạn có : như bảng điểm, học bạ, bằng cấp, giấy khen,…. Ngoài ra, bạn cũng phải nắm rõ về trường, khóa học, chuyên ngành học, …tại Mỹ cũng như những dự định nghề nghiệp của bạn sau này.
2. Bạn có đủ nguồn tài chính chi trả cho việc học của mình không? : Chính phủ Mỹ muốn biết các bạn có đủ nguồn tài chính hỗ trợ trong suốt thời gian bạn theo học tại Mỹ hay không để đảm bảo chắc chắn rằng bạn không bỏ học và đi làm bất hợp pháp.
Vì vậy bạn cần chứng minh tài chính rõ ràng và cụ thể : ai sẽ là người chi trả học phí cũng như chi phí ăn ở cho bạn?
- Nếu bạn được cấp học bổng thì bạn phải có những giấy tờ liên quan đến việc bạn được cấp học bổng đó.
- Nếu bạn được gia đình hoặc một cá nhân nào đó tài trợ, bạn phải làm thế nào để chứng tỏ rằng người tài trợ cho bạn có khả năng trả tiền cho việc học của bạn.
- Nếu là người khác (không phải cha mẹ), bạn cần giải thích với viên chức Lãnh sự quán về mối quan hệ của bạn với người này, để chứng minh cho việc tại sao người tài trợ này sẵn sàng cam kết trả hàng chục nghìn đôla cho việc học của bạn.
Bên cạnh đó, bạn cũng cung cấp cho các viên chức lãnh sự những bằng chứng về khả năng tài chính của người tài trợ cho bạn, đặc biệt là nguồn thu nhập và mức thu nhập. Điều này sẽ giúp cho viên chức lãnh sự tin rằng tiền sẽ được cung cấp đầy đủ trong suốt thời gian bạn học.
3. Bạn có ý định quay về Việt Nam sau khi hoàn tất khóa học của mình tại Mỹ hay không?
- Đây là điều quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất cho tất cả các viên chức Lãnh sự quán khi xem xét. Bởi lẽ, Luật thị thực của Mỹ quy định rằng các cán bộ lãnh sự phải coi tất cả các ứng viên xin thị thực không nhập cư là những người có ý định nhập cư cho tới khi họ có thể thuyết phục cán bộ lãnh sự rằng họ không có ý định đó. Vì vậy, theo điều luật này thì các viên chức lãnh sự luôn xem các bạn như đang có ý định định cư tại Hoa Kỳ vĩnh viễn cho đến khi nào các bạn chứng minh được điều ngược lại.
- Các bạn có thể đưa ra những bằng chứng dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tất cả chúng phải đủ mạnh mẽ để giúp cho viên chức lãnh sự tin là bạn sẽ không định cư Mỹ. Do đó các bạn nên chuẩn bị sẵn sàng để trình bày hoàn cảnh của mình thật rõ ràng và chính xác để đảm bảo rằng việc các bạn ở Mỹ chỉ là tạm thời.
Lưu ý:
- Các bạn nên sử dụng tiếng Anh cho phần phỏng vấn của mình và hạn chế sử dụng tiếng Việt vì nếu không các viên chức Lãnh sự quán sẽ cho rằng các bạn không đủ khả nặng tiếng Anh để đi du học. Khi bạn nghe không được họ nói bằng tiếng anh hãy nói “Pardon me” và nhìn người phiên dịch. Họ sẽ dịch lại cho các bạn nhưng nhất thiết các bạn phải trả lời họ lại bằng tiếng Anh. Trừ khi nào không thể nói bằng tiếng Anh, hoặc các bạn cảm thấy nói bằng tiếng Anh các bạn sẽ không thể giải thích hết ý thì hãy xin họ nói bằng tiếng Việt.
- Trong lúc chờ đợi đến lượt mình phỏng vấn, các bạn tuyệt đối không gây mất trật tự, không làm những hành vi khiến họ nghi ngờ vì sẽ bất lợi cho các bạn lúc phỏng vấn.
- Khi nghe gọi đến tên mình hãy thật bình tĩnh, hít một hơi thật sâu và tiến đến phòng phỏng vấn, mỉm cười và chào những người phỏng vấn” Good…, sir/madam”.Khi phỏng vấn xong dù được hay không các bạn cũng phải nói cám ơn và chào tạm biệt họ: “Thanks for your interview”.
- Hồ sơ phỏng vấn phải được sắp xếp gọn gàng theo thứ tự để khi viên chức phỏng vấn yêu cầu xem những giấy tờ nào thì các bạn có thể đưa cho họ ngay lập tức mà không bị lúng túng.
- Đặc biệt không nên xin visa không quá 120 ngày và không vào Mỹ trước 30 ngày so với ngày nhập học.
|
1010_1308198714_VIeC-LaM-VoI-Du-HoC-_3466_387_s.jpg
Trong bài này, tôi sẽ nói về chương trình thực tập không bắt buộc.
Tiếng Mỹ gọi là Optional Practical Training (OPT). OPT cho phép du học sinh diện F-1 làm việc ngoài khuôn viên của trường để lấy kinh nghiệm thực hành trong ngành học của mình. Khác với chương trình thực tập trong chương trình (gọi là Curricular Practical Training hay CPT), OPT không nằm trong chuơng trình học .
Du học sinh có thể bắt đầu chương trình OPT trước hoặc sau khi tốt nghiệp. Du học sinh làm việc trong chuơng trình OPT trước khi tốt nghiệp có thể làm việc tối đa 20 tiếng một tuần trong niên học. Trong thời gian nghỉ lễ hay nghỉ hè, họ có thể làm việc toàn thời gian.
Du học sinh làm việc trong chương trình OPT sau khi tốt nghiệp có thể làm việc toàn thời gian. Chương trình OPT sau khi tốt nghiệp phải được hoàn tất trong vòng 14 tháng sau khi đương đơn tốt nghiệp.
Du học sinh có thể làm việc trong chuơng trình OPT tối đa là 12 tháng sau khi tốt nghiệp. Du học sinh làm việc trong chuơg trình OPT trước khi tốt nghiệp có thể làm việc tối đa 24 tháng do số giờ làm việc bị giảm đi phân nửa.
Chỉ những du học sinh bậc đại học mới có thể xin làm việc trong chương trình OPT. Du học sinh học ngoại ngữ, hay du học sinh bậc tiểu học hay trung học không thể xin làm việc trong chuơng trình OPT.
Trong chương trình OPT, du học sinh chỉ có thể làm những việc liên quan đến ngành học của mình.
Qui định mới cho phép một du học sinh được xin thêm một năm chuơng trình OPT cứ mỗi lần học lên cao. Thí dụ, một du học sinh học xong bằng cử nhân (tức bằng tốt nghiệp đại học đầu tiên) có thể làm việc một năm trong chương trình OPT. Nếu người du học sinh đó học tiếp lên cao học (hay phó tiến sĩ) thì được thêm một năm chuơng trình OPT. Nếu người đó lại học tiếp lên tiến sĩ thì lại được thêm một năm chương trình OPT.
Chương trình OPT tự động chấm dứt khi du học sinh chuyển trường .
Muốn xin làm việc trong chương trình OPT, đương đơn phải nộp đơn cho viên chức nhà trường có trách nhiệm. Đơn xin gồm có mẫu I-538 và mẫu I-20. Nếu viên chức nhà trường có trách nhiệm đồng ý với đơn xin của đương đơn, họ sẽ chứng nhận trên mẫu I-538 rằng việc làm liên quan trực tiếp với ngành học và xứng với trình độ học vấn của đương đơn. Viên chức này cũng sẽ ghi ngày và ký tên phía sau mẫu I-20 để chứng minh rằng việc làm thực hành trong ngành học của đương đơn được đề nghị “toàn thời gian (hay bán thời gian) từ [ngày] đến [ngày]”. Sau đó, viên chức nói trên sẽ gửi trở lại cho đương đơn mẫu I-20 và gởi cho Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) giấy chứng nhận của nhà trường trên mẫu I-538.
Sau đó, đương đơn nộp cho Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) mẫu I-765 xin giấy phép đi làm cùng với bản sao của I-94 và I-20.
Du học sinh chỉ có thể bắt đầu làm việc sau khi nhận được giấy phép đi làm. Giấy phép đi làm là một thẻ nhỏ giống như thẻ xanh hay bằng lái xe.
Du học sinh xin việc làm thực hành sau khi tốt nghiệp phải làm đơn xin với viên chức nhà trường có trách nhiệm trước khi hoàn tất chương trình. Đương đơn không được nôp đơn trong thời gian gia hạn (grace period) sau khi tốt nghiệp. Qui định mới bắt một du học sinh tìm việc thực hành trong thời gian nghỉ hè sau năm học đầu tiên phải nộp đơn tối thiểu 90 ngày trước khi hoàn tất năm học đầu tiên.
Du học sinh tìm việc làm thực hành trong ngành (OPT) có thể nộp đơn 120 ngày trước ngày dự tính làm việc. Theo qui định, Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) phải hoàn tất việc xét đơn xin giấy phép đi làm trong vòng 90 ngày.
Nếu Service Center xét đơn lâu hơn 90 ngày, du học sinh có thể xin giấy phép đi làm tạm ở văn phòng địa phương của Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS).
Du học sinh có thể xin rút lại đơn xin giấy phép đi làm nếu công việc chưa bắt đầu. Nếu viên chức nhà trường có trách nhiệm đã xác nhận mẫu I-538 và đã gửi mẫu I-538, nhưng du học sinh chưa nộp đơn I-765, thì viên chức nhà trường sẽ gửi cho Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) một bản sao của mẫu I-538 với chữ “Cancelled” (Hủy bỏ) trên đó cùng với một bản sao của mẫu I-20 với chữ “Cancelled” (Hủy bỏ) ghi trong phần đề nghị của mẫu I-20.
Nếu đương đơn đã nộp mẫu I-765 thì đương đơn phải viết thư cho Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) để xin rút lại đơn. Nếu đương đơn đã được Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) cấp giấy phép đi làm nhưng công việc chưa bắt đầu thì đương đơn gửi trở lại cho Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) giấy phép đi làm kèm theo thư xin hủy chương trình OPT.
Nếu công việc đã bắt đầu, đương đơn không thể xin lại thời gian được hưởng chương trình OPT. Nếu đương đơn đổi trường, đương đơn cũng sẽ bị mất thời gian được hưởng chương trình OPT.
Nếu đương đơn rờI khỏi Mỹ trong thời gian đơn I-765 đang chờ đợi sự cứu xét, Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) sẽ xem như đương đơn từ bỏ việc xin giấy phép đi làm.
Nếu đương đơn đã được cấp giấy phép đi làm thì đương đơn có thể đi du lịch ngoài nước Mỹ nếu viên chức nhà trường có trách nhiệm đã ký trên mẫu I-20 cho phép đương đơn du lịch trong vòng 6 tháng trước.
Trên lý thuyết, du học sinh diện F-1 có thể xin đóng dấu visa mới ở đại sứ quán hay lãnh sự quán Hoa Kỳ trước khi trở lại Mỹ. Tuy nhiên, trên thực tế, điều đó giống như là một thử thách đối với du học sinh vì phải chứng minh những ràng buộc đối với quê nhà khi trở qua để đi làm thay vì tiếp tục việc học. Do đó, du học sinh nên nghĩ đến việc xin visa F-1 khác trước khi bắt đầu chương trình OPT.
|
1008_1308198739_VISA-Du-HoC_3467_147_s.jpg
Càng ngày càng có nhiều sinh viên học sinh Việt Nam hay ngoại quốc muốn sang Mỹ du học. Du học sinh nước ngoài có thể xin visa không di dân F hay M.
Theo điều khoản 101(a)(15)(F)(i) của đạo luật Immigration and Nationality Act, visa F là visa không di dân dành cho những đương đơn muốn theo học và hoàn tất một chương trình học tại một trường tiểu học, trung học, đại học hay một trường dạy tiếng trong nước Mỹ. Những trường này phải được Bộ Nội An (Department of Homeland Security) cho phép nhận sinh viên ngoại quốc. Với visa F, đương đơn có thể du học tại Mỹ để lấy bằng tốt nghiệp trung học hay đại học (cử nhân) hay chứng chỉ ngoại ngữ.
Theo điều khoản 101(a)(15)(M)(i) của đạo luật Immigration and Nationality Act, visa M là visa không di dân dành cho những đương đơn muốn theo học chương trình tại một trường dạy nghề hay kỹ thuật.
Như đã nói ở trên, một sinh viên chỉ có thể theo học tại một trường được Bộ Nội An (Department of Homeland Security) cho phép nhận sinh viên ngoại quốc. Trường phải xin phép Bộ Nội An (Department of Homeland Security) trước khi nhận sinh viên ngoại quốc. Giả thử trường hội đủ tiêu chuẩn thì sau đây là những bước sinh viên ngoại quốc phải làm để xin visa F hay M.
1. Đương đơn nộp đơn xin học tại một trường do đương đơn lựa chọn.
2. Nếu đương đơn được nhận học, trường học sẽ gửi cho đương đơn mẫu I-20 (in ra từ hệ thống Student and Exchange Visitor Information System [SEVIS]). Đương đơn phải nộp mẫu này kèm theo đơn xin visa.
3. Đương đơn nộp đơn xin visa F-1 hay M-1 ở Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội hay ở Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TPHCM. (Đương đơn có thể nộp đơn xin visa F-2 hay M-2 cho người phối ngẫu hay con cái).
4. Đương đơn sẽ qua phỏng vấn tại Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội hay tại Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TPHCM. Trong phỏng vấn, đương đơn sẽ được lấy dấu tay và chụp hình. Đương đơn cũng phải nộp giấy tờ chứng minh quá trình học tập và phương tiện tài chánh trong thời gian du học tại Mỹ.
5. Nếu phỏng vấn và giấy tờ thuyết phục được nhân viên lãnh sự rằng đương đơn chỉ có ý định ở một thời gian bên Mỹ để học và hoàn tất chương trình học, đương đơn sẽ được cấp visa.
Sau đây là một vài yếu tố mà nhân viên lãnh sự sẽ cân nhắc khi xét đơn xin visa du học của đương đơn.
1.
Nguồn tài chánh của đương đơn
: Đây là một yếu tố mà nhân viên lãnh sự sẽ thẩm định một cách kỹ lưỡng khả năng ăn học toàn thời gian của đương đơn mà không cần phải đi làm để trang trải các chi phí đó. Do đó, đương đơn cần nộp những giấy tờ chứng minh đương đơn có khả năng tài chánh để trả tiền học, tiền sách vở, tiền ăn ở cùng những chi phí khác. Giấy tờ chứng minh phương tiện tài chánh của đương đơn có thể là tiền trợ cấp của nhà trường hay của một tổ chức tư nhân. Đương đơn cũng có thể nộp giấy tờ chứng minh tài khoản nhà băng của cha mẹ, giấy chứng nhận việc làm của cha mẹ, giấy tờ chứng minh tài khoản của đương đơn, chứng từ về tài sản hoặc của cải có thể đổi thành tiền hay chứng từ về sự trợ giúp tài chánh của những người khác. Tuy nhiên, điều quan trọng là đương đơn nên chứng minh được khả năng tài chánh tối thiểu để có thể tự túc trong vấn đề ăn học cho năm học đầu tiên.
2.
Ý định không di dân của đương đơn
: Giống như đối với những diện visa không di dân khác, đương đơn cần chứng minh với nhân viên lãnh sự là đương đơn không có ý định di dân. Một trong những yếu tố chứng minh điều đó là gia đình của đương đơn còn ở Việt Nam và sẽ tiếp tục sống tại Việt Nam. Gia đình của đương đơn có thể viết tờ thư khai điều này. Yếu tố nữa là sự ràng buộc về kinh tế của đương đơn hay của gia đình đương đơn với Việt Nam và đương đơn hay/và gia đình đương đơn sẽ không cắt đứt sự ràng buộc đó. Thí dụ về sự ràng buộc kinh tế là giấy tờ sở hữu nhà đất hay giấy tờ chứng minh cơ sở kinh doanh). Cuối cùng, ý định không di dân của đương đơn có thể thể hiện qua dự tính nghề nghiệp của đương đơn sau khi trở về nước. Đương đơn có thể viết thư trình bày điều này hay đưa ra những giấy tờ tài liệu chứng minh Việt Nam có nhiều nhu cầu về ngành học mà đương đơn sẽ theo học. Điều này chưng minh với nhân viên lãnh sự rằng đương đơn đã cẩn thận lựa chọn trường học và cân nhắc lợi ích lâu dài của ngành mình lựa chọn. Có thể vì đó, nhân viên lãnh sự sẽ giảm thành kiến là đương đơn có ý định di dân.
3.
Thay đổi tình trạng từ diện du lịch sang diện du học sinh
: Trong một vài trường hợp, nhũng người đang có mặt tại Hoa Kỳ với visa B muốn chuyển diện qua visa F-1 hay M-1. Trong trường hợp này, họ phải viết thư giải thích chi tiết tại sao họ muốn chuyển diện và tại sao họ không làm đơn xin visa du học khi còn ở trong nước. Điều này rất quan trọng để chứng minh ý định học hành của mình mặc dù được nhận vào Mỹ theo diện du lịch.
4.
Duy trì tình trạng F hay M
: Sau đây là một vài điều mà đương đơn phải ghi nhớ:
- Luôn luôn giữ mẫu I-20 với mình để chứng minh tình trạng của mình ở Mỹ.
- Luôn luôn lấy số giờ học cho phù hợp với khóa học toàn thời gian của trường.
- Nếu thay đổi trường học hay chương trình học kéo dài hơn dự định, đương đơn phải xin mẫu I-20 mới để có thể phản ảnh những thay đổi của mình.
- Nếu đương đơn muốn xin việc làm trong thời gian có visa F, đương đơn phải đảm bảo rằng công việc đó cần có có sự chấp thuận của Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) hay không cần sự chấp thuận của Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ bời vì công việc đó được coi như là khóa đào tạo thực hành.
- Nếu đương đơn cần rời khỏi Mỹ tạm thời (không quá 5 tháng) nhưng dự định trở lại Mỹ với visa du học sinh, đương đơn nên xin trường học cấp mẫu I-20 mới để có thể vào lại nước Mỹ. |
1006_1308198763_VIeC-LaM-VoI-Du-HoC-_3466_387_s.jpg
Có nhiều cách để đương đơn có thể làm việc một cách hợp pháp với visa F-1.
Cách dễ nhất để làm việc hợp pháp là tìm việc trong khuôn viên của trường. Việc làm trong khuôn viên của trường phải hoặc ở trong những tòa nhà của trường (bao gồm các cơ sở kinh doanh hoạt động trong khuôn viên của trường như nhà hàng hay tiệm bán sách) hoặc ở một nơi ngoài khuôn viên của trường nhưng sáp nhập vào trường về mặt giáo dục.
Tuy nhiên, du học sinh không thể nào lảm việc cho một công ty ở ngoài hoạt động trong khuôn viên của trường nếu công ty đó không cung cấp dịch vụ trực tiếp cho sinh viên. Thí dụ, một sinh viên có thể làm cho nhà hàng, nhưng không thể nào làm cho công ty xây dựng hoạt động trong khuôn viên của trường.
Công việc ngoài khuôn viên trường làm cho một tổ chức hay cơ quan sáp nhập với trường phải liên kết đến chương trình học của trường hay liên quan đến những dự án nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ. Việc làm phải là một phần của chương trình học.
Việc làm trong khuôn viên bị giới hạn 20 tiếng một tuần trong khóa học. Du học sinh được phép làm việc toàn thời gian trong những kỳ nghĩ lễ hay nghỉ hè. Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) có quyền cho phép một du học sinh làm việc trên 20 tiếng một tuần nếu họ nghĩ là trường hợp khẩn cấp cho phép điều đó. Nếu Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ cho phép một du học sinh làm việc trên 20 tiếng một tuần, họ sẽ đăng thông báo trong Federal Register (tạm dịch là Sổ bộ liên bang). Tuy nhiên, du học sinh vẫn phải chứng minh với viên chức nhà trường có tar1ch nhiệm rằng việc làm là cấn thiết để tránh tình trạng khốn khó về kinh tế gây ra bởi tình trạng khẩn cấp. Viên chức nhà trường sẽ ghi chú trên mẫu I-20 theo đúng với thông báo trong Federal Register.
Du học sinh đã hoàn tất việc học sẽ không được làm việc trong khuôn viên nhà trường ngoại trừ nếu đã được chấp thuận trong chuyện xin làm việc trong chương trình đào tạo thực hành (Practical Training).
Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) qui định rằng du học sinh có thể làm một công việc trong khuôn viên của trường nếu công việc đó không chiếm chỗ của thường dân Mỹ. Tuy vậy, Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) từ trước đến giờ vẫn luôn để nhà trường quyết định chuyện và chưa bao giờ ra thêm hướng dẫn giải thích cụ thể về vấn đề trên. Một vài bình luận gia cho là Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) sẽ can thiệp nếu có một người nào làm đơn khiếu nại hay than phiền, chẳng hạn như công đoàn. Tuy nhiên, nếu một công việc từ trước đến giờ luôn luôn dùng du học sinh thì công việc đó được xem như phù hợp với du học sinh với visa F-1 hay M-1.
Đối với một du học sinh đang chuyển trường, việc làm chỉ có thể được chấp thuận bởi trường học có quyền hạn trên hồ sơ SEVIS của du học sinh đó. Một du học sinh với visa F-1 lấn đầu không đươc làm việc quá 30 ngày trước khi khóa học bắt đầu.
Giống như các công ty khác, đại học bắt buộc phải kiểm chứng giấy phép đi làm trước khi thuê muớn một du học sinh cho công việc trong khuôn viên của trường. Điếu này có nghĩa là nhà trường phải tuân theo yêu cầu của mẫu đơn I-9 (Employment Eligibility Verification). Có một vấn đề là du học sinh được mướn có thẻ Social Security Number (SSN) hay không. Nhiều cơ quan, kể cả các trường đại học, yêu cầu nhân viên phải có thẻ Social Security Number (SSN). Tuy nhiên, thẻ Social Security Number (SSN) không bắt buộc khi điền mẫu I-9. Do đó, một trường đại học có thể bỏ qua việc đòi hỏi một du học sinh được mướn phải có thẻ Social Security Number (SSN) nếu điều đó không ảnh hưởng đến công nhân Hoa Kỳ. Tuy vậy, du học sinh vẫn phải nộp giấy tờ để nhận dạng (như hộ chiếu) và để kiểm chứng giấy phép làm việc (như mẫu I-20 và I-94).
Đại học phải làm gì đối với một du học sinh chưa có thẻ Social Security Number (SSN). Nhà trường vẫn phải trừ thuế theo luật để trang trải chi phí về Social Security (an ninh xã hội).
Trong quá khứ, không có thẻ Social Security Number không phải là một vấn đề lớn vì chỉ trong một vài ngày là Social Security Administration (SSA) đã cấp số thẻ Social Security Number (SSA). Việc làm trong khuôn viên của trường là một lý do chính đáng để xin thẻ Social Security Number (SSN). Tuy nhiên, kể từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, Social Security Administration (SSA) kiểm chứng giấy tờ và qui chế di trú với Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ trước khi cấp số thẻ Social Security Number. Social Security Administration cũng kiểm chứng vớI trường xem du học sinh có đăng ký học toàn thời gian hay không và có được phép làm việc trong khuôn viên nhà trướng hay không. Những thủ tục này khiến một du học sinh phải chờ đợi nhiều tuần lễ trước khi nhận được thẻ Social Security Number (SSN). |
Trong bài trước, tôi đã nói về việc làm trong khuôn viên của trường
Trong bài này, tôi sẽ đề cập đến việc làm ngoài khuôn viên của trường. Một trong những cách mà du học sinh có thể xin giấy phép đi làm là được nhận thực tập (Practical Training). Việc làm thực tập cho phép du học sinh đã học ít nhất một năm (tức 9 tháng) tìm việc làm ngoài khuôn viên của trường.
|
994_1308198788_Lam-them-o-My--nhung_3440_770_s.jpg
Nếu bạn muốn du học Mỹ thì nên biết! Các công việc làm thêm ở Mỹ Có tất tần tật các nghề. Từ bồi bàn, rửa chén dĩa, giữ em bé, ghisê trong các cửa hàng, cho đến trả lời điện thoại, chuyển tiền ngân hàng, hay tiếp thị qua điện thoại (telemarketing). Và sang nhất là trợ giảng cho giáo viên, dành riêng cho dân đại học. Dân teen Mỹ thường đi làm thêm từ năm 16-17 tuổi. Nhưng dân mình sang du học thì thường lên Đại học mới bắt đầu làm thêm và có phần rắc rối hơn. Bạn sẽ được cấp visa F1 hoặc J1. Visa F1 chỉ cho phép bạn làm 20 giờ/tuần, lại chỉ được làm thêm trong các trường đại học. Muốn làm thêm ở ngoài thì bạn phải đợi một năm, tính từ khi cấp visa, sau đó xin giấy phép làm việc từ sở Luật hoặc SSN từ Sở An ninh xã hội.
Hẳn teen du học ai nấy ít nhiều cũng từng nghĩ đến chuyện tìm việc làm thêm
Còn J1 thì miễn bàn! J1 là visa dành cho học sinh qua Mỹ chỉ trong duy nhất một năm, sau đó thì trở về nước, nên dân J1 không thể xin việc làm ở đây. Nếu bạn buồn thì như mọi dân teen bên này, hãy đọc câu thần chú: Forget your problem, think about your bright future (Quên rắc rối đi, nghĩ về tương lai tươi sáng!)
Nhưng luôn được hỗ trợ
Các trường Đại học thường có những chương trình học cho học sinh học nửa học kỳ, nửa học kỳ còn lại sẽ làm thêm trong những chương trình của nhà trường. Như vậy, học sinh vừa có kinh nghiệm, vừa có thêm kiến thức. Nếu bạn giỏi và đủ tự tin, có thể nói chuyện trực tiếp với giáo viên để xin làm trợ giảng.
Bạn có thể sắp xếp giờ giấc để vừa kiếm xiền, vừa học hành tử tế. Mức lương thì tuỳ. Thấp nhất là 5,5-8 đô/giờ. Ví dụ như nghề bồi bàn, thường thì khoảng 6 đô/giờ, làm một tháng có thể kiếm được 1.000 đô. Làm từ 1-2 năm trở lên hoặc có nhiều sáng kiến thì sẽ được tăng lương!
Nhưng không nỗ lực thì cũng chít
Trở ngại lớn nhất là giao tiếp tiếng Anh. Nếu bạn nghe và nói trôi chảy thì quá tốt. Còn nếu vẫn còn lõm bõm thì hoặc là sống nhờ trợ cấp của mommy, hoặc là phải hết sức nỗ lực.
Ở đây, việc ai nấy làm, toàn bộ đều phải tự thân vận động, đừng nghĩ mình lạ nước lạ cái thì có người giúp đỡ. Thêm nữa, tính tiểu thư công tử, xài giờ dây thun thì càng phải bỏ sớm ở nhà vì qua đây trễ giờ thì cầm chắc mất việc.
Vấn đề di chuyển cũng rắc rối. Không có xe ôm cho bạn ngoắc, tắc xi là thứ xa xỉ, xe buýt nhiều khi không có chuyến. Nên nếu muốn đi làm thêm, phải lường trước khả năng đi bộ của mình, vì đó là phương tiện duy nhất có thể dùng mọi lúc mọi nơi.
Bạn cũng phải biết cân bằng thời khóa biểu, đừng mải mê đi làm, vào lớp thì… ngủ gục. Bạn phải luôn nhớ mục đích chính của mình ở bên ấy là HỌC, không được lấy dài nuôi ngắn nhé!
Vừa học vừa làm sẽ giúp bạn có thêm nhiều kiến thức xã hội cũng như rèn luyện sự tự lập
& bạn sẽ được...
Thứ đầu tiên là... tiền (đương nhiên!). Sau đó là cách kiếm tiền và cách xài tiền. Bạn sẽ nằm lòng câu: Tiền kiếm ở đâu cũng khó hết! Tính tự lập của bạn sẽ được rèn luyện và cả cách sắp xếp thời gian nữa.
Thứ cuối cùng là kinh nghiệm, một điều quý giá mà nhà tuyển dụng nào cũng đòi hỏi. Sinh viên mới ra trường thì làm gì còn kinh nghiệm nào khác ngoài kinh nghiệm làm thêm. Cho nên nếu mà cứ đợi đến lúc tốt nghiệp đi làm, thì bạn sẽ bị bạn bè bỏ xa hàng cây số.
Hà Phương
(Theo
HHT |
|